Phật tính, tính cách & cái tôi

By

·

21–32 minutes

Điều làm cho mọi đứa trẻ sơ sinh trở nên đẹp đẽ và đáng yêu chính là Phật tính của chúng – yếu tố tạo nên thực tại chân thật của mỗi con người.

– Samael Aun Weor

Phật tính

Điều làm cho mọi đứa trẻ sơ sinh trở nên đẹp đẽ và đáng yêu chính là Phật tính của chúng – yếu tố tạo nên thực tại chân thật của mỗi con người. Tuy nhiên, nếu để tự nhiên, Phật tính trong mỗi sinh vật chỉ phát triển một cách rất sơ khai và hạn chế.

Cơ thể con người lớn lên và phát triển theo các quy luật sinh lý của giống loài. Tuy nhiên, khả năng tự phát triển của Phật tính lại vô cùng hạn hẹp.

Một điều chắc chắn rằng, nếu không được hỗ trợ thì Phật tính chỉ có thể phát triển ở mức độ rất nhỏ.

Nói một cách thẳng thắn và rõ ràng thì Phật tính chỉ có thể phát triển tự nhiên và tự phát trong ba đến năm năm đầu tiên, tức là trong giai đoạn đầu đời.

Mọi người thường nghĩ rằng sự phát triển của Phật tính luôn diễn ra liên tục theo cơ chế tiến hóa máy móc, tuy nhiên giáo lý Gnosis càn khôn dạy rõ rằng việc này không xảy ra như thế.

Để Phật tính có thể phát triển hơn nữa, cần có một điều đặc biệt—chúng ta phải làm điều gì đó mới mẻ.

Tôi muốn nhấn mạnh đến việc rèn luyện bản thân. Phật tính chỉ có thể được phát triển thông qua việc rèn luyện với tâm thức tỉnh táo và chịu đựng khổ đau với thái độ tích cực.

Chúng ta cần phải hiểu rằng công việc rèn luyện này không liên quan đến nghề nghiệp thông thường như ngân hàng, thợ mộc, xây dựng, sửa chữa đường sắt hay làm văn phòng.

Tất cả những người đã phát triển tính cách một cách đầy đủ đều có thể rèn luyện thông qua công việc tâm lý này.

Tất cả chúng ta đều biết rằng bên trong mình có cái gọi là cái tôi, “bản thân tôi”. Thật không may, Phật tính bị mắc kẹt, bị nhốt trong cái tôi, và điều này rất đáng tiếc. Ta phải khám phá ra cái tôi tâm lý, phải làm tan rã các yếu tố không mong muốn của nó; đây là việc khẩn cấp, không thể trì hoãn đến ngày mai, không thể để lại đến ngày kia. Đó là ý nghĩa của việc rèn luyện bản thân.

Chúng ta không thể giải phóng Phật tính nếu chưa làm tan rã cái tôi tâm lý. Trong Phật tính có tôn giáo, có Phật, có minh triết, và có những hạt nhân đau khổ của đức Cha trên trời, cùng tất cả thông tin mà ta cần cho sự khai ngộ nội tâm của bản thể. Không ai có thể tiêu diệt được cái tôi tâm lý nếu chưa loại bỏ các yếu tố phi nhân tính mà chúng ta mang bên trong.

Chúng ta cần thiêu rụi sự tàn ác ghê gớm của thời đại này thành tro bụi; lòng đố kỵ – thật không may thay, đã trở thành động cơ bí mật đằng sau mọi hành động; lòng tham không đáy đã khiến cuộc đời trở nên cay đắng; thói vu cáo kinh tởm và những lời vu khống gớm ghiếc đã gây ra biết bao bi kịch; cùng với thói rượu chè và dục vọng bẩn thỉu bốc mùi khó chịu, v.v.

Khi tất cả những điều ghê tởm này tan biến thành cát bụi vũ trụ, Phật tính sẽ được giải phóng, lớn lên và phát triển một cách hài hòa. Chắc chắn, khi cái tôi tâm lý đã chết, Phật tính sẽ tỏa sáng bên trong chúng ta.

Phật tính tự do ban cho chúng ta vẻ đẹp bên trong; từ vẻ đẹp đó tỏa ra hạnh phúc hoàn hảo và tình yêu đích thực.

Phật tính sở hữu nhiều giác quan hoàn hảo và các siêu năng lực phi thường của thế giới tự nhiên.

Khi chúng ta “chết đi trong chính mình,” khi làm tan rã cái tôi tâm lý, thì ta sẽ có được những giác quan và siêu năng lực quý giá của Phật tính.

– Samael Aun Weor, Chương 4, Tâm Lý Học Cho Sự Chuyển Hóa Triệt Để


Sự kiện cá nhân

Một người đàn ông sinh năm 1900 và qua đời ở tuổi 65. Nhưng trước năm 1900 ông ấy đã ở đâu và sau năm 1965 ông ấy sẽ về đâu? Khoa học hiện đại không biết gì về tất cả những điều này cũng như tất cả các câu hỏi khác liên quan đến sự sống và cái chết.

Nhìn chung, có thể khẳng định rằng: con người chết vì thời hạn của họ đã kết thúc và sẽ không có ngày mai cho tính cách của một người đã chết.

Mỗi ngày là một con sóng của thời gian, mỗi tháng lại là một con sóng khác của thời gian, mỗi năm cũng vậy – một con sóng thời gian khác và tất cả những con sóng này liên kết với nhau tạo thành con sóng vĩ đại của cuộc đời. Vì vậy, thời gian là một vòng tròn và cuộc đời của mỗi con người là một vòng tròn khép kín.

Tính cách của con người được sinh ra, phát triển và chết đi trong hạn định của nó. Tính cách không bao giờ có thể tồn tại ngoài hạn định đó. Vấn đề thời gian như thế là một vấn đề đã được nghiên cứu bởi nhiều học giả. Không còn nghi ngờ gì nữa, thời gian là chiều không gian thứ tư.

Hình học Euclid chỉ có thể được áp dụng cho thế giới ba chiều. Nhưng thế giới có bảy chiều không gian và chiều thứ tư là thời gian.

Tâm trí con người coi sự vĩnh cửu như việc kéo dài thời gian theo một đường thẳng. Quan niệm này là vô cùng sai lầm vì sự vĩnh cửu thuộc chiều không gian thứ năm.

Mỗi khoảnh khắc trong cuộc sống xảy ra trên trục thời gian và không ngừng lặp đi lặp lại.

Sự sống và cái chết là hai cực hợp nhất với nhau. Cái chết kết thúc vòng đời của một người để một vòng đời khác được bắt đầu. Một chu kỳ kết thúc để một chu kỳ khác được bắt đầu. Như vậy, cái chết có liên quan mật thiết đến luật tái diễn vĩnh cửu. Điều này có nghĩa là chúng ta phải trở lại, quay lại với thế giới này sau khi chết, để diễn lại cùng một vở kịch về kiếp sống của mình. Tuy nhiên, nếu tính cách con người bị diệt vong cùng với cái chết, thì ai hay cái gì sẽ trở lại?

Cần phải làm rõ một lần và mãi mãi rằng cái tôi là thứ sẽ tiếp tục tồn tại sau cái chết, rằng cái tôi là thứ trở về với thung lũng đầy nước mắt này.

Quan trọng là độc giả không được nhầm lẫn giữa luật tái sinh (return) với thuyết tái hiện thân (reincarnation) 1 được giảng dạy bởi hội thông thiên học hiện đại. Lý thuyết tái hiện thân nói trên có nguồn gốc từ giáo lý của đức Krishna, một tôn giáo Ấn Độ theo kiểu Vệ đà. Tuy nhiên thật không may là lý thuyết đó đã bị các “nhà cải cách” chỉnh sửa và làm sai lệch.

Thần Krishna với Radha

Theo giáo lý chính thực, nguyên gốc của Đức Krishna, chỉ có những anh hùng, những người dẫn đường hay những người có tính cá thể2 linh thiêng mới có thể tái hiện thân.

Cái tôi đa nguyên tái sinh quay trở lại, nhưng đây không phải là tái hiện thân. Do đó, đa số mọi người quay trở lại, nhưng đó không phải là tái hóa thân.

Khái niệm về sự trở lại của các sự vật và hiện tượng, hay quan điểm về sự lặp lại vĩnh cửu là rất cổ xưa. Ta có thể tìm thấy nó trong học thức Py-ta-go và cả trong vũ trụ quan cổ đại của người Ấn Độ với sự trở lại vĩnh cửu ngày và đêm của Brahma, sự lặp lại không ngừng của Kalpa3, v.v., luôn luôn liên kết chặt chẽ với học thức Py-ta-go và luật trở lại và tái diễn vĩnh cửu.

Đức Phật Thích Ca đã giảng dạy giáo lý tái sinh vĩnh cửu và bánh xe luân hồi một cách rất trí tuệ, nhưng giáo lý của ngài đã bị những môn đệ làm sai lệch đi rất nhiều.

Đương nhiên là tính cách của mỗi con người phải được tạo ra trong mỗi kiếp sống. Tính cách này được hình thành trong bảy năm đầu đời. Vào tuổi thơ, môi trường gia đình, xã hội và nhà trường mang lại cho tính cách con người nét đặc trưng của nó. Tấm gương của người lớn là yếu tố quyết định cho việc hình thành tính cách của trẻ em. Đứa trẻ học được từ những ví dụ nhiều hơn là những lời dạy bảo. Không may là những lối sống sai lầm, những thói hư tật xấu của người lớn là những tấm gương hoen ố, đem lại cho tính cách của đứa trẻ sự đa nghi và đồi truỵ điển hình của thời đại chúng ta đang sống hiện nay.

Ví dụ như trong thời buổi hiện đại bây giờ, ngoại tình đã trở nên phổ biến như cơm bữa và điều này khó có thể hiểu được. Tình trạng này tạo nên cảnh địa ngục ngay trong nhà. Bởi vậy mà ngày nay, nhiều đứa trẻ phải chịu đựng đau đớn và uất hận trước những đòn roi của cha dượng, mẹ kế. Rõ ràng là nếu cứ như thế thì tính cách của đứa trẻ sẽ phát triển trong vòng vây của đau đớn, phẫn uất và hận thù.

Có một câu ngạn ngữ rằng: “Con nhà người ta lúc nào cũng thối”. Tất nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ nhưng chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay (mà vẫn thừa ra vài ngón). Những cuộc cãi vã giữa cha mẹ do ghen tuông, tiếng khóc than của một người mẹ thống khổ hay của một người cha bị áp bức, phá sản và tuyệt vọng, hằn sâu vào tính cách của đứa trẻ một nỗi đau không thể xóa nhòa, một nỗi sầu mà suốt đời không thể quên được.

Trong những ngôi nhà sang chảnh, bà chủ kiêu ngạo ngược đãi người giúp việc khi thấy họ đi làm đẹp hoặc trang điểm khuôn mặt vì những điều đó làm tổn thương niềm kiêu hãnh của bà. Khi đứa trẻ nhìn thấy những cảnh tệ hại này, chúng sẽ cảm thấy bị tổn thương sâu sắc, cho dù nó đứng về phía người mẹ kiêu ngạo của mình hay nó đứng về phía người giúp việc bị sỉ nhục bất hạnh kia, thì kết quả luôn là thảm hại cho tính cách trẻ thơ.

Kể từ khi truyền hình được phát minh thì sự hòa thuận trong gia đình đã không còn. Trước kia, khi người chồng trở về nhà sau một ngày làm việc sẽ được người vợ ra đón với tràn ngập niềm vui. Ngày nay người vợ không còn ra đón chồng ở cửa vì cô ấy còn bận xem vô tuyến. Trong những gia đình hiện đại, người cha, người mẹ, con trai, con gái, dường như đã trở thành những cỗ máy tự động vô thức trước màn hình vô tuyến. Giờ đây người chồng chẳng thể trò chuyện với vợ về bất kỳ vấn đề nào trong ngày, về công việc, v.v., bởi vì cô ấy vẫn còn mơ ngủ khi đang xem lại bộ phim của ngày hôm qua, những cảnh địa ngục của Al Capone4, hay điệu nhảy mới nhất của nhạc hiện đại, v.v.

Những đứa trẻ lớn lên trong các gia đình hiện đại ngày nay chỉ nghĩ đến những khẩu đại bác, súng ngắn, đồ chơi súng máy để bắt chước và tái diễn theo cách riêng của mình các cảnh tội ác kiểu địa ngục như đã thấy trên màn hình vô tuyến. Đáng tiếc rằng phát minh truyền hình tuyệt vời này lại được sử dụng với những mục đích mang tính hủy hoại. Nếu nhân loại biết sử dụng phát minh này một cách đúng mực, như để nghiên cứu khoa học tự nhiên, hay để dạy nghệ thuật hoàng gia đích thực của Mẹ thiên nhiên, hay cung cấp những giáo lý tuyệt vời cho người dân, thì phát minh này đã là một phước lành cho nhân loại, nó đã có thể được sử dụng một cách thông minh để trau dồi cho tính cách con người.

Việc nuôi dưỡng tính cách của trẻ em với âm nhạc loạn nhịp, không hài hòa và thô tục rõ ràng là vô lý. Tương tự thế, thật ngu ngốc khi nuôi dưỡng tính cách của trẻ bằng những câu chuyện về trộm cắp và cảnh sát, những cảnh tượng đồi bại và mại dâm, những bộ phim ngoại tình và phim khiêu dâm, v.v. Kết quả của một quá trình như vậy có thể được nhìn thấy trong những “kẻ nổi loạn vô cớ”5 với những tên sát nhân trẻ, v.v.

Ảnh quảng cáo phim “Kẻ nổi loạn vô cớ”, 1955

Thật là đáng buồn khi các bà mẹ đánh đòn con cái của họ, chửi rủa chúng với những lời cay nghiệt và độc ác. Những hành vi đó sinh ra sự oán giận, thù hận, mất đi tình yêu thương, v.v. Trong thực tế, chúng ta thấy rằng khi trẻ em lớn lên trong bạo lực, đòn roi và những tiếng la hét chửi rủa, chúng sẽ trở thành những con người hỗn láo, xấc xược, thiếu đi lòng tôn kính và lễ phép.

Điều quan trọng là phải hiểu được nhu cầu cần thiết của việc tạo ra trạng thái cân bằng thực sự bên trong các tổ ấm gia đình. Cần phải hiểu rằng, sự dịu dàng và nghiêm khắc phải được cân bằng6 với nhau trên cán cân công lý.

Người cha đại diện cho sự nghiêm khắc. Người mẹ đại diện cho sự dịu dàng. Người cha hiện thân cho trí tuệ. Người mẹ tượng trưng cho tình yêu.Trí tuệ và tình yêu, sự nghiêm khắc và dịu dàng, luôn cân bằng lẫn nhau trên cán cân của vũ trụ. Cha mẹ phải cân bằng lẫn nhau vì tổ ấm của mình.

Điều quan trọng và cấp thiết là tất cả các bậc cha mẹ phải hiểu được sự cần thiết của việc gieo những giá trị tâm linh vững bền vào trong tâm trí của con trẻ. Điều đáng tiếc là trẻ em hiện đại không còn có ý thức tôn kính. Ý thức đó bị mất đi do những câu chuyện về cao bồi, những tên cướp chống lại cảnh sát, do truyền hình, phim ảnh, v.v., tất cả những điều này đã làm hư tâm trí của trẻ.

Cuộc cách mạng chuyển hóa tâm lý của phong trào Gnosis vạch ra một sự phân định rõ ràng, chính xác giữa cái tôi và Phật tính. Trong ba hoặc bốn năm đầu đời của trẻ chỉ có vẻ đẹp của Phật tính được biểu hiện. Khi đó, đứa trẻ thật dịu dàng, ngọt ngào và xinh đẹp trong tất cả các khía cạnh tâm lý của chúng. Tuy nhiên, khi cái tôi bắt đầu kiểm soát tính cách dịu dàng của đứa trẻ thì tất cả vẻ đẹp của Phật tính sẽ dần biến mất và thay vào đó là những khiếm khuyết tâm lý đặc trưng của con người bắt đầu phát triển.

Giống như việc phân biệt giữa cái tôi và Phật tính, chúng ta cũng cần phải phân biệt giữa tính cách và Phật tính. Con người được sinh ra với Phật tính chứ không phải với tính cách. Bởi vậy, tính cách cần phải được tạo ra. Tuy nhiên, tính cách và Phật tính nên được phát triển một cách hài hòa và cân bằng với nhau.

Trong thực tế, khi tính cách được phát triển một cách thái quá đến mức Phật tính bị mai một thì hệ quả sẽ là một người vô dụng. Những quan sát và thực nghiệm nhiều năm đã cho phép chúng tôi nhận ra rằng, khi Phật tính được phát triển quá mức mà không có sự chú ý đến việc tu dưỡng tính cách một cách hài hòa thì kết quả sẽ tạo ra một người tu hành không có lý trí, không có tính cách. Một con người có tấm lòng cao thượng nhưng lạc lõng và không có năng lực. Sự phát triển hài hòa giữa tính cách và Phật tính hình thành nên những con người xuất chúng.

Mọi thứ chúng ta thực sự sở hữu nằm ở trong Phật tính. Mọi thứ trong tính cách chỉ là vay mượn. Trong Phật tính, chúng ta có những phẩm chất bẩm sinh của mình còn trong tính cách chúng ta có tấm gương từ người lớn, từ những gì chúng ta đã học ở nhà, ở trường và trên đường phố. Trẻ em cần phải nhận được dưỡng chất cho cả Phật tính và tính cách.

Phật tính được nuôi dưỡng bằng sự dịu dàng, tình thương vô hạn, tình yêu, âm nhạc, hoa lá, cái đẹp, sự hài hòa, v.v. Tính cách phải được nuôi dưỡng bởi tấm gương tốt đẹp của người lớn, và bởi sự dạy dỗ thông minh từ nhà trường, v.v.

Trẻ em cần phải đi học tiểu học lúc bảy tuổi, sau khi đã học xong mầm non.7

Trẻ em nên học những chữ cái đầu tiên thông qua các trò chơi, như vậy việc học sẽ trở nên hấp dẫn, thú vị, vui vẻ đối với chúng. Giáo dục nền tảng nên dạy cho trẻ ngay từ khi còn ở mầm non về ba khía cạnh của tính cách con người: tư duy, vận động và cảm xúc. Điều này cần phải được đặc biệt chú trọng. Như vậy tính cách của trẻ mới được phát triển một cách hài hòa và cân đối.

Việc hình thành và phát triển tính cách của một đứa trẻ là một nhiệm vụ vô cùng nghiêm túc với các bậc phụ huynh và giáo viên nhà trường. Chất lượng tính cách của con người hoàn toàn phụ thuộc vào những chất liệu tâm lý mà nhờ đó tính cách được tạo ra và được nuôi dưỡng.

Xung quanh các khái niệm về tính cách, Phật tính và cái tôi, các học giả tâm lý học có rất nhiều sự nhầm lẫn. Một số học giả nhầm lẫn giữa tính cách với Phật tính, những người khác lại nhầm lẫn giữa cái tôi với Phật tính.

Do đó, có rất nhiều trường phái giả bí truyền hoặc giả huyền học lấy việc vượt qua ảnh hưởng của tính cách làm mục tiêu rèn luyện của họ. Cần phải làm rõ rằng, tính cách không phải là thứ mà chúng ta phải tan rã. Thứ mà chúng ta cần phải tan rã là cái tôi, bản thân tôi, phải biến cái tôi thành cát bụi của vũ trụ. Tính cách chỉ đơn thuần là một phương tiện của hành động, một phương tiện cần thiết để sáng tạo và xây dựng.

Trên đời này có những kiểu tính cách như của Caligula [Gaius Caesar], Attila Rợ Hung, Hitler, v.v. Nhưng dù là kiểu tính cách nào đi chăng nữa, cho dù có ngoan cố đến đâu, thì tính cách vẫn có thể được chuyển hóa triệt để sau khi cái tôi hoàn toàn được tan rã.

Vấn đề là việc làm tan rã cái tôi khiến nhiều người theo thuyết giả huyền học cảm thấy rối trí và khó chịu. Họ tin chắc rằng cái tôi là thần thánh, rằng cái tôi cũng là Bản thể, là Đơn tử8 thần thánh, v.v. Vâng, điều quan trọng và cấp thiết là phải hiểu rằng cái tôi không có gì là thần thánh cả.

Cái tôi là Sa-tan của Kinh thánh, nó chỉ là một mớ ký ức: những ham muốn, dục vọng, hận thù, phẫn uất, nhục dục, ngoại tình. Đó là nghiệp kế thừa từ gia đình, chủng tộc, quốc gia, v.v

Nhiều người tuyên bố một cách ngốc nghếch rằng, trong chúng ta có một cái tôi cao cấp thần thánh và một cái tôi hạ cấp. Cao cấp và hạ cấp luôn là hai phần của cùng một thứ. Cao cấp hay hạ cấp là hai phần của cùng một cái tôi.

Bản thể thần thánh, đơn tử, tâm linh sâu thẳm nhất, không có gì liên quan đến cái tôi. Bản thể là bản thể và chỉ vậy thôi. Lý do tồn tại của bản thể chính là bản thể.

Tính cách vốn dĩ chỉ là một phương tiện, và không là gì khác cả. Vậy nên, hoặc là Bản thể có thể biểu hiện thông qua tính cách hoặc là cái tôi có thể biểu hiện qua tính cách, tất cả đều tuỳ thuộc vào chúng ta.

Điều cấp thiết là phải làm tan rã cái tôi, để chỉ có tinh chất tâm lý [Phật tính] của Bản thể đích thực của chúng ta được biểu lộ qua tính cách.

Điều không thể thiếu là các nhà giáo phải hiểu đầy đủ, sự cần thiết của việc trau dồi một cách hài hòa ba khía cạnh của tính cách con người.

Sự cân bằng hoàn hảo giữa tính cách và Phật tính, sự phát triển hài hòa giữa suy nghĩ, cảm xúcvận động, cùng với đạo đức mới chính là nền tảng của giáo dục cơ bản.

– Samael Aun Weor, Nền tảng của giáo dục Gnosis, Chương 24


Các cái tôi

Loài động vật trí năng, bị gọi nhầm là con người, thực sự không có một tính cá thể rõ ràng. Không nghi ngờ gì nữa, việc loài vật hình người này thiếu sự nhất quán trong tâm lý chính là nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn và cay đắng.

Cơ thể vật chất là một thể thống nhất hoàn chỉnh và hoạt động như một tổng thể hữu cơ, trừ khi bị bệnh. Tuy nhiên, xét về mặt tâm lý thì đời sống nội tâm của loài vật hình người lại không phải là một thể thống nhất.

Điều nghiêm trọng nhất ở đây, bất chấp các trường phái giả tâm linh học và giả huyền học nói gì, là sự thiếu vắng một trật tự tâm lý trong sâu thẳm mỗi con người.

Trong những điều kiện như vậy thì chắc chắn đời sống nội tâm của con người không thể nào hoạt động hài hòa được. Xét về trạng thái bên trong, loài vật hình người là một đa thể tâm lý, là tổng thể của các cái tôi.

Các chuyên gia vô minh của thời kỳ u tối này tôn thờ cái tôi, họ thần thánh hóa nó, đặt nó lên bàn thờ, gọi nó là “alter ego”, “cái tôi cao cấp”, “cái tôi thiêng liêng”, v.v.

Những kẻ biết-tuốt ở thời đại đen tối mà chúng ta đang sống này không muốn nhận ra rằng cái “tôi cao cấp” hay cái “tôi hạ cấp” là hai khía cạnh của cùng một cái tôi đa nguyên. Loài vật hình người chắc chắn không có một cái “tôi vĩnh viễn”, mà đúng hơn là có vô số cái tôi hạ cấp và phi lý.

Động vật trí năng đáng thương, bị gọi nhầm là con người, giống như một ngôi nhà hỗn loạn, nơi thay vì có một chủ nhân, lại có rất nhiều người hầu luôn muốn ra lệnh và làm theo ý của riêng mình.

Sai lầm lớn nhất của các trường phái giả huyền học và giả bí truyền rẻ tiền là việc cho rằng mọi người, hoặc chính bản thân họ, sở hữu một “cái tôi vĩnh hằng bất biến”, không sinh không diệt.

Những người nghĩ như vậy, nếu họ có thể đánh thức tâm thức dù chỉ trong giây lát, thì sẽ nhận ra rất rõ ràng rằng động vật trí năng hình người không bao giờ là “bất biến” trong bất kỳ khoảng thời gian nào.

Nhìn từ góc độ tâm lý thì động vật trí năng thay đổi liên tục không ngừng. Nếu nghĩ rằng một người tên Luis lúc nào cũng là Luis thì thật là nực cười. Anh chàng tên Luis ấy có nhiều cái tôi khác nhau bên trong, chúng thể hiện qua tính cách của anh tùy theo từng thời điểm. Mặc dù Luis không ưa gì sự tham lam, nhưng một cái tôi khác trong anh, tạm gọi là Pepe, lại rất tham lam, và những cái tôi khác cũng không ngoại lệ. Không ai là bất biến mãi mãi. Thực ra, ta không cần quá thông minh để nhận thấy vô số sự thay đổi và mâu thuẫn trong mỗi con người.

Nếu cho rằng ai đó có một “cái tôi vĩnh hằng và bất biến” thì chẳng khác nào sỉ nhục mọi người xung quanh và cả chính mình nữa. Trong mỗi người đều có rất nhiều người tồn tại, rất nhiều cái tôi; bất kỳ ai tỉnh giác đều có thể tự kiểm chứng được điều này một cách trực tiếp.

– Samael Aun Weor,  Tâm Lý Học Cho Sự Chuyển Hóa Triệt Để, Chương 10


Cái tôi yêu quí

Vì cái tôi cao cấp và hạ cấp là hai phần của cùng một thứ, chúng ta có thể lập ra một hệ quả tất yếu sau đây: cái tôi cao cấp và cái tôi hạ cấp là hai mặt của cùng một cái tôi u tối và đa nguyên.

Những khái niệm như “cái tôi thần thánh” hay “cái tôi cao cấp”, “Alter Ego”, hay kiểu như thế, chắc chắn là một trò lừa bịp do chính con người tạo ra, một dạng tự lừa dối chính mình.

Khi cái tôi muốn tiếp tục tồn tại trong kiếp này và các kiếp sau, nó sẽ tự lừa chính mình bằng ảo tưởng về một cái tôi thần thánh và bất diệt.

Không ai trong chúng ta có một cái tôi thực sự, vĩnh cửu, bất biến, bất diệt, phi thường khôn tả, v.v.

Không ai trong chúng ta thực sự là nhất thể; đáng tiếc thay, chúng ta thậm chí còn không có nổi một tính cá thể chân chính.

Mặc dù cái tôi vẫn tiếp tục tồn tại sau khi ta qua đời, nó vẫn có sinh và có diệt.

Cái tôi không bao giờ là một nhất thể độc lập, nhất quán, nguyên vẹn. Rõ ràng, cái tôi là tập hợp của nhiều cái tôi.

Ở Tây Tạng, các cái tôi được gọi là các “cấu trúc tâm lý”9 hay đơn giản là các “giá trị”, bất kể chúng là tích cực hay tiêu cực.

Nếu coi mỗi cái tôi như một con người riêng biệt, chúng ta có thể khẳng định một cách dứt khoát rằng: trong mỗi con người trên thế giới này đều có rất nhiều người.

Không nghi ngờ gì nữa, bên trong mỗi chúng ta đều có rất nhiều người, cả tốt lẫn xấu.

Mỗi cái tôi này, mỗi con người này, đều cạnh tranh để giành quyền kiểm soát tối cao, muốn độc chiếm bộ não lý trí hoặc các trung tâm cảm xúc10 và vận động mỗi khi có cơ hội – cho đến khi một cái tôi khác thay thế nó.

7TrungTam 2 Chương 11 - Cái tôi yêu quý
Con người có tất cả 7 trung tâm xử lý

Giáo lý về cái tôi đa nguyên đã được các bậc nhãn thông đích thực và các bậc khai ngộ chân chính giảng dạy ở Tây Tạng.

Mỗi khiếm khuyết tâm lý trong chúng ta đều được đại diện bởi một cái tôi riêng. Bởi chúng ta có hàng nghìn và thậm chí hàng triệu khiếm khuyết, nên hiển nhiên là ta có rất nhiều người sống bên trong mình.

Về mặt tâm lý học, chúng tôi nhận thấy rằng những người hoang tưởng, tự cao và điêu ngoa thường không bao giờ chịu từ bỏ thái độ tôn thờ cái tôi của mình.

Không nghi ngờ gì nữa, những người như thế cực kỳ căm ghét giáo lý về cái tôi đa nguyên.

Khi một người thực sự muốn hiểu chính mình, người đó phải tự quan sát và cố gắng hiểu được các cái tôi trong tính cách của mình.

Nếu có độc giả nào vẫn chưa hiểu được giáo lý về cái tôi đa nguyên, thì đó hoàn toàn là do họ chưa thực hành quan sát bản thân đủ nhiều mà thôi.

Khi thực hành tự quan sát bên trong, chúng ta sẽ tự khám phá ra được nhiều con người, nhiều cái tôi đang sống ở bên trong tính cách của chính mình.

Những ai phủ nhận giáo lý về cái tôi đa nguyên hoặc sùng bái cái tôi thần thánh, chắc chắn chưa bao giờ quan sát bản thân một cách nghiêm túc. Chúng tôi có thể nói như Xô-crát rằng những người này không chỉ không biết mà còn không biết rằng họ không biết.

Chắc chắn, ta sẽ không bao giờ hiểu được chính mình nếu không quan sát bản thân một cách nghiêm túc và sâu sắc.

Khi một người vẫn giữ niềm tin rằng mình là một thể thống nhất, rõ ràng họ sẽ không bao giờ thay đổi được bất kỳ điều gì bên trong.

– Samael Aun Weor,  Tâm Lý Học Cho Sự Chuyển Hóa Triệt Để, Chương 11


Chú thích

  1. Tái sinh, tái hiện thân: ở đây tác giả đang đề cập đến một vấn đề trong tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh, trong đó từ “reincarnate” được dùng để chỉ việc tái sinh. Tác giả không đồng ý với việc dùng từ này vì “reincarnate” bắt nguồn từ “incarnate” với ý nghĩa là “hoá thân” hoặc là “hiện thân”. Vì thế, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu nói rằng “sau khi chết tôi sẽ reincarnate (tái hoá thân)” vì chỉ có các vị Phật mới có thể hoá thân được. Trong tiếng Việt chúng ta không gặp vấn đề này: người Việt không bao giờ nhầm lẫn giữa “tái sinh” và “tái hoá thân”. Sự khác biệt mà tác giả muốn nhấn mạnh giữa “tái sinh” và “tái hoá thân” ở đây là việc tái sinh xảy ra theo nghiệp quả và chúng ta không thể chủ động chọn nơi để tái sinh. Còn các vị Phật thì có thể chủ động gửi Phật tính để hoá thân ở bất kỳ nơi nào họ muốn. ↩︎
  2. “Tính cá thể” ở đây được hiểu theo nghĩa là tính riêng biệt, độc đáo của một cá nhân, phân biệt người ấy với tập thể hoặc với những khuôn mẫu chung. Xem thêm: GnosisVN, “Tính cá thể, Cá thể hoá, Tập thể, Biệt hoá – Định nghĩa của B.S. Carl Jung,” 08/11/2021.
    ↩︎
  3. Kalpa: Tiếng Việt hay dịch là Kiếp, theo nghĩa chỉ một khoảng thời gian kéo dài, một kỷ nguyên, hoặc một “ngày của Brahma”. Theo truyền thống, người ta nói rằng có bốn kalpa: hình thành, tồn tại, hủy diệt, và không (mỗi phần được gọi là asamkhyeya-kalpa). Cả bốn kalpa hợp lại là chiều dài tuổi thọ của một thế giới và tạo thành một chu kỳ hoàn chỉnh, được gọi là maha kalpa (đại kiếp). ↩︎
  4. Al Capone là tên trùm mafia nổi tiếng ở Mỹ. ↩︎
  5. “Kẻ nổi loạn vô cớ” là bộ phim nổi tiếng của diễn viên James Dean, năm 1955. Tuy nhiên, ở đây thầy đang đề cập đến những kẻ nổi loạn thực sự.” ↩︎
  6. Ở đây thầy đang đề cập đến hai trụ cột Jiakhin và Boaz trong đền thờ của vua Sa-lô-môn, tượng trưng cho công lý và lòng thương hoặc cho sự nghiêm khắc và dịu dàng. Xem thêm bài Hai trụ Jiakhin và Boaz ↩︎
  7. Hệ thống giáo dục ở Mexico khác với Việt Nam. ↩︎
  8. “Đơn tử” trong giáo lý Gnosis chỉ hạt giống của tâm thức, tức phần được tái sinh qua các kiếp liên tiếp sau khi cơ thể vật chất chết đi. Khái niệm này cũng được gọi là Bộ Tam Thể Thần Thánh, Atman-Buddhi-Manas, Atman-Buddhi, hay Chân Thần. Xem GnosisVN, “Đơn Tử,” đăng ngày 20/04/2017, cập nhật 31/12/2024, https://gnosisvn.org/2017/04/20/don-tu/. ↩︎
  9. “Cấu trúc tâm lý” hay “hành” được dùng tương ứng với psychological aggregate, psychological structure hoặc ego. Thuật ngữ này liên hệ với saṅkhāra trong Pali và saṃskāra trong Sanskrit, chỉ những ấn tượng, khuynh hướng và chủ tâm tích lũy trong tâm thức, có thể dẫn đến hành động, nghiệp và tái sinh. Xem thêm: https://gnosisvn.org/2021/03/07/cau-truc-tam-ly-hanh/. ↩︎
  10. “Trung tâm cảm xúc” là một trong năm trung tâm xử lý hạ cấp của cỗ máy con người, liên quan đến đời sống cảm xúc và phản ứng tình cảm. Chúng ta cần phân biệt trung tâm cảm xúc hạ cấp với trung tâm cảm xúc cao cấp, nơi có thể tiếp nhận những thông điệp sâu sắc từ Bản thể và nuôi dưỡng các cảm xúc cao cấp trong trái tim. Xem thêm https://gnosisvn.org/2017/03/06/trung-tam-cam-xuc-cao-cap/. ↩︎

Gửi phản hồi

Khám phá thêm từ Gnosis Hà Nội

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc