Điểm là mặt cắt của đường thẳng.
Đường thẳng là mặt cắt của mặt phẳng.
Mặt phẳng là mặt cắt của vật thể ba chiều.
Vật thể ba chiều là mặt cắt của vật thể bốn chiều.Samael Aun Weor
Nhớ bản thân
Việc này nghe có vẻ khó tin, nhưng khi các học trò quan sát bản thân, họ không nhớ đến chính mình.
Quả thật, các học trò tâm linh không thật sự cảm nhận được chính mình; họ không ý thức được bản thân mình.
Thật khó tin, nhưng khi một học trò Gnosis tự quan sát cách mình cười, nói, đi đứng, v.v., thì họ lại quên mất chính mình; điều này nghe có vẻ khó tin, nhưng đó là sự thật.
Tuy nhiên, điều tuyệt đối cần thiết là phải cố gắng nhớ bản thân trong khi tự quan sát; việc này là nền tảng để đạt được sự thức tỉnh của tâm thức.
Quan sát bản thân, biết chính mình mà không quên mất bản thân, là điều vô cùng khó khăn, nhưng cũng hết sức cấp thiết nếu muốn thức tỉnh tâm thức.
Những điều chúng tôi đang nói có vẻ vô lý, nhưng con người không hề biết rằng mình đang ngủ say; họ không biết rằng mình không hề nhớ bản thân, ngay cả khi đứng trước một tấm gương lớn hay khi quan sát bản thân một cách tỉ mỉ.
Tình trạng quên mất chính mình này, việc không nhớ được chính mình, thực sự là căn nguyên gốc rễ của mọi sự vô minh nơi loài người. Khi một người thật sự hiểu sâu sắc rằng họ không thể nhớ được chính mình, rằng họ không ý thức về bản thân, thì người ấy đã tiến rất gần đến sự thức tỉnh tâm thức. Chúng tôi đang nói đến một điều cần được suy ngẫm sâu sắc. Những gì được trình bày ở đây vô cùng quan trọng, và nếu chỉ đọc một cách máy móc, bạn sẽ không thể hiểu được.
Người đọc cần phải suy ngẫm. Con người không có khả năng cảm nhận cái tôi của mình khi quan sát bản thân, và vì thế không có khả năng chuyển nó từ trung tâm này sang trung tâm khác. Quan sát cách mình nói, cười, đi lại, v.v., mà không quên mất bản thân đồng thời vẫn cảm nhận được cái tôi bên trong — đây là điều vô cùng khó khăn, nhưng lại là nền tảng cốt lõi để thức tỉnh tâm thức.
Bậc thầy vĩ đại Ouspensky viết rằng: “Ấn tượng đầu tiên mà nỗ lực ý thức về chính mình tạo ra nơi tôi là thế này: khi tôi tự nhủ ‘Tôi đang đi’, ‘Tôi đang làm’, và cố giữ cho cái tôi ấy sống động, cố cảm nhận nó bên trong mình, thì suy nghĩ dường như lắng xuống. Khi tôi nắm bắt được cái tôi ấy, tôi không thể suy nghĩ hay nói năng; ngay cả cường độ của các cảm giác cũng suy giảm. Hơn nữa, người ta chỉ có thể duy trì trạng thái ấy trong một thời gian rất ngắn.”
Cần phải làm tan rã “cái tôi đa nguyên”, biến nó thành tro bụi, nhưng trước hết ta phải biết nó; phải nghiên cứu nó trong bốn mươi chín tầng tiềm thức, mà trong Gnosis được tượng trưng bằng bốn mươi chín con quỷ của Yaldabaoth. 1Nếu một bác sĩ muốn cắt bỏ khối ung thư, trước hết ông phải hiểu rõ về nó; tương tự như vậy, nếu một người muốn làm tan rã cái tôi, họ cần phải nghiên cứu nó, ý thức được nó và biết nó trong bốn mươi chín vùng tiềm thức.
Trong quá trình nhớ đến chính mình trong nội tâm, trong nỗ lực mãnh liệt để ý thức về chính cái tôi của mình, rõ ràng sự chú ý bị phân chia, và ở đây chúng ta lại quay về vấn đề phân chia sự chú ý. Một phần của sự chú ý đương nhiên hướng về nỗ lực ấy, phần còn lại hướng về cái tôi đa nguyên.
Việc nhớ đến chính mình không chỉ đơn thuần là tự phân tích bản thân; đó là một trạng thái hoàn toàn mới, chỉ có thể biết được qua trải nghiệm trực tiếp. Mỗi con người, ở một thời điểm nào đó, đều đã từng thoáng trải qua những khoảnh khắc nhớ đến chính mình trong nội tâm: có thể trong một giây phút kinh hoàng tột độ, có thể lúc còn thơ ấu, hay trong một chuyến đi nào đó khi ta chợt tự hỏi: “Mình đang làm gì ở đây? Tại sao mình lại ở đây?” Việc quan sát bản thân và đồng thời nhớ đến bản thể sâu thẳm của chính mình là điều vô cùng khó khăn, nhưng lại thiết yếu nếu ta thật sự muốn biết chính mình.
Trong khi thiền, cái tôi đa nguyên luôn hành động theo chiều ngược lại. Nó khoái lạc trong sự tà dâm khi ta đang cố thấu hiểu dục vọng; nó gầm thét và nổi cơn thịnh nộ ở một nơi nào đó trong bốn mươi chín vùng tiềm thức của Yaldabaoth khi ta đang cố thấu hiểu cơn giận; nó khao khát được tiếp tục tham lam trong khi ta muốn biến lòng tham thành tro bụi. Nhớ đến chính mình trong nội tâm chính là hoàn toàn ý thức được mọi quá trình tiềm thức của cái tôi, của “bản thân tôi”, của cái tôi đa nguyên.
Quan sát cách chúng ta suy nghĩ, nói cười, đi đứng, ăn uống, cảm nhận, v.v., mà không quên chính mình, không quên những quá trình bên trong của cái tôi đang diễn ra trong bốn mươi chín vùng tiềm thức của Yaldabaoth, là một việc vô cùng khó khăn, nhưng lại là việc nền tảng để thức tỉnh tâm thức.
Việc quan sát bản thân và nhớ đến chính mình một cách sâu sắc chính là khởi đầu cho sự phát triển của giác quan không gian; giác quan này sẽ hoàn toàn phát triển khi tâm thức thức tỉnh.
Các luân xa mà Leadbeater2 và nhiều tác giả khác nhắc đến giống như những bông hoa trên cái cây của giác quan không gian; chính cái cây ấy mang lại sự sống cho chúng.

Cái cây mới là nền tảng. Giác quan không gian là chức năng tự nhiên của tâm thức đã thức tỉnh.
Người đã thật sự thức tỉnh có thể nhìn, nghe, chạm, ngửi và cảm nhận những gì đang diễn ra trong bốn mươi chín vùng tiềm thức của Yaldabaoth. Người đã thực sự thức tỉnh có thể tự mình xác minh, qua trải nghiệm trực tiếp, trạng thái mê ngủ của người khác. Họ có thể nhìn thấy trạng thái ấy nơi những người đi trên đường phố, những người làm việc trong nhà máy, những người cầm quyền, và trong tất cả mọi người. Người đã thực sự thức tỉnh có thể nhìn, nghe, ngửi, chạm và cảm nhận mọi điều trong các thế giới siêu việt.
Ai muốn trải nghiệm thực tại của mọi điều xảy ra trong các chiều không gian cao hơn thì phải thức tỉnh tâm thức ngay bây giờ và ở đây.
-Samael Aun Weor, “Chuỗi hạt của Đức Phật”
Chiều không gian thứ tư
Thời gian
Nếu quan sát cẩn thận bất kỳ vật thể nào trong thế giới Maya (ảo ảnh) mà chúng ta đang sống, chẳng hạn một cái bàn, ta sẽ kinh ngạc nhận ra rằng nó có ba khía cạnh được xác định rõ ràng: chiều dài, chiều rộng và chiều cao.
Tuy nhiên, rõ ràng là trong cái bàn vừa nêu còn có một yếu tố thứ tư, cụ thể và hoàn toàn xác định. Tôi muốn nói đến thời gian. Đã bao lâu trôi qua kể từ khi người thợ mộc khiêm tốn ấy làm ra chiếc bàn được đánh bóng kia? Chỉ vài phút? Vài giờ? Vài tháng? Hay nhiều năm?
Chiều dài, chiều rộng và chiều cao, không còn nghi ngờ gì nữa — kể cả dưới sự hoài nghi kiểu Đề-các-tơ3 — là ba khía cạnh Euclid của thế giới ba chiều này, dù muốn hay không, vẫn là nơi chúng ta đang sống. Rõ ràng sẽ là điều vô lý nếu loại trừ yếu tố thứ tư khỏi các định đề của chúng tôi.
Khi thời gian được hiểu như chiều không gian thứ tư, nó có hai khía cạnh cơ bản: tính thời gian và tính không gian. Khía cạnh thời gian của đời sống chỉ là lớp bề mặt luôn thay đổi của nền không gian; đó là một sự thật rõ ràng và không thể phủ nhận. Nhiều năm trước, trước khi nhà bác học Einstein làm cả thế giới kinh ngạc với thuyết tương đối nổi tiếng của mình, bất kỳ người có học nào cũng xem thời gian như một đường thẳng. Tuy nhiên, ngày nay, bất kỳ ai có lý trí đều chấp nhận rằng thời gian là một đường cong.
Tuy nhiên, rõ ràng là ngay trong thế kỷ này vẫn còn những người suy nghĩ theo lối thời Trung cổ. Những trí thức lớn của thời đại chúng ta, với khuynh hướng không tưởng của mình, vẫn mơ tưởng hão huyền rằng vĩnh cửu là một đường thẳng, rằng thời gian kéo dài đến vô tận. Trường phái Gnosis cách mạng, bằng phép biện chứng, dạy rằng vĩnh cửu hoàn toàn khác với thời gian.
Phong trào Gnosis Quốc tế khẳng định dứt khoát rằng có một chiều không gian thứ năm, được gọi bằng cái tên trang trọng là vĩnh cửu. Theo định luật tái diễn, mọi sự trong đời sống đều lặp lại đúng như đã từng xảy ra trước đó trong vòng tròn luẩn quẩn của thời gian. Quả thật, thời gian lặp lại mãi mãi, nhưng đừng nhầm lẫn thời gian với vĩnh cửu.
Trong hiện tại vĩnh cửu của sự sống vĩ đại, các sự kiện và thời gian không ngừng lặp lại. Đường cong của thời gian xoay chuyển trong vòng tròn hoàn hảo của vĩnh cửu; tuy nhiên, rõ ràng thời gian và vĩnh cửu là hai vòng quay khác nhau.
Vượt lên trên hai vòng tròn bí ẩn ấy là chiều không gian thứ sáu, nền tảng sống của mọi sự hình thành vũ trụ. Chúng ta phải tìm kiếm nó trong miền số không chưa ai biết đến. Xét rằng Einstein đã dùng toán học để chứng minh tính tương đối của thời gian, chúng ta có thể nhấn mạnh rằng yếu tố thứ tư — tức thời gian — của thế giới ba chiều này không tồn tại trong cõi Tuyệt đối chưa biểu hiện.
Trước khi trái tim rực lửa của Hệ Mặt Trời Ors4 — nơi chúng ta đang sống và có bản thể của mình — bắt đầu đập những nhịp đầu tiên sau Đại Pralaya5 (Đêm Vũ Trụ), thời gian chưa tồn tại. Khi ấy, thời gian vẫn ngủ say trong lòng của cõi Tuyệt Đối Trừu Tượng.
Nếu vào cuối Mahamanvantara6 này (Ngày Vũ Trụ, hay Đại Kiếp), bảy chiều không gian cơ bản của vũ trụ bị quy về một điểm toán học duy nhất, rồi điểm ấy tan biến như một giọt nước giữa đại dương, thì rõ ràng khi ấy thời gian không còn tồn tại nữa.
Thế giới, cũng như con người, động vật và thực vật, đều sinh ra, lớn lên, già đi rồi chết. Mọi sinh vật tồn tại dưới ánh mặt trời đều có một khoảng thời gian sống nhất định. Thật ra, đối với mọi sinh vật, mỗi nhịp đập của trái tim chính là một Đơn Vị Sự Sống. Chúng tôi từng được chỉ dạy, một cách rất minh triết, rằng toàn thể bầu trời đầy sao là một hệ thống những trái tim đang đập mạnh mẽ. Rõ ràng mỗi nhịp đập của các thế giới kéo dài 27.000 năm. Toàn bộ cuộc đời của bất kỳ thế giới nào đang tỏa sáng và lấp lánh trong lòng cõi vô hạn bất biến đều tương đương với 2.700.000.000 nhịp đập của trái tim vũ trụ.
Con côn trùng khiêm tốn chỉ sống trong một buổi chiều hè, nhưng thực ra nó sống lâu như bất kỳ con người hay thế giới nào; chỉ là mọi thứ nơi nó diễn ra nhanh hơn rất nhiều. Có lời được khắc bằng than hồng rực lửa rằng số nhịp đập của trái tim nơi loài thú, con người và các thế giới luôn như nhau, dù nhịp độ có lúc nhanh hơn hay chậm hơn.
Thời gian là tương đối, và trên sân khấu của thế gian có vô số diễn viên đi ngang qua, mỗi người đều mang theo chiếc đồng hồ riêng của mình. Ngoài ra còn có những phép tính bí mật và thời gian huyền học. Bất kỳ đạo sư nào cũng biết điều đó.
Bình luận về chiều thứ tư
Ở Catalunya, Tây Ban Nha, có một ngôi đền kỳ diệu tồn tại trong trạng thái Jinn7. Đó là đền Montserrat. Trong ngôi đền này lưu giữ Chén Thánh, chiếc cốc bạc mà Chúa Kitô Giêsu đã dùng để uống rượu trong Bữa Tiệc Ly. Chính trong Chén Thánh ấy cũng lưu giữ máu khô của Đấng Cứu Thế. Theo truyền thuyết, vị nghị sĩ La Mã Joseph xứ Arimathea đã dùng chiếc chén ấy để hứng lấy dòng máu vương giả chảy xuống dưới chân thánh giá của Đấng Cứu Thế. Máu từ những vết thương của Đấng Đáng Kính tuôn chảy và làm đầy chiếc chén ấy.
Có một nhóm Chân Sư của Bạch Đại Hội Quán đang sống trong đền Montserrat. Họ là những Hiệp sĩ Chén Thánh. Thuở trước, con người còn có thể nhìn thấy đền Montserrat cùng Chén Thánh. Về sau, ngôi đền và Chén Thánh trở nên vô hình. Ngôi đền hiện ở trong trạng thái Jinn; nó đã cùng Chén Thánh chìm vào siêu không gian. Ngày nay, người ta chỉ có thể viếng thăm ngôi đền ấy bằng cơ thể cảm xúc, hoặc bằng cơ thể vật chất được đưa vào trạng thái Jinn.
Một cơ thể vật chất có thể được đưa ra khỏi thế giới ba chiều và đặt vào chiều không gian thứ tư. Tất cả những điều này đều có thể thực hiện được nếu biết sử dụng siêu không gian một cách khéo léo. Chẳng bao lâu nữa, vật lý thiên văn sẽ chứng minh được sự tồn tại của siêu không gian. Các bộ lạc bản địa ở châu Mỹ từng có kiến thức sâu rộng về khoa học Jinn. Tại Mexico, các Hiệp sĩ Hổ biết cách đưa cơ thể vật chất vào siêu không gian. Ở châu Mỹ vẫn có những hồ nước, ngọn núi và đền thờ tồn tại trong trạng thái Jinn. Tại Mexico, đền Chapultepec hiện đang ở trong trạng thái Jinn (siêu không gian). Chính tại ngôi đền này, thầy Huiracocha đã nhận lễ điểm đạo.
Khi còn nhỏ, tất cả chúng ta đều từng nghe rất nhiều câu chuyện về phù thủy và thần tiên. Bà thường kể cho ta nghe những câu chuyện về các mụ phù thủy cưỡi chổi xuất hiện lúc nửa đêm rồi bay xuyên qua mây. Mặc dù điều này có vẻ khó tin đối với nhiều học trò huyền học, Thông Thiên Học, Thập Tự-Hoa Hồng, v.v., nhưng những phù thủy ấy có thật. Họ không cưỡi chổi như trong những câu chuyện của bà chúng ta kể, nhưng họ biết cách du hành trong không trung. Những người được gọi là “phù thủy” ấy di chuyển trong không gian bằng chính cơ thể vật lý của mình. Họ biết cách sử dụng siêu không gian để đưa cơ thể vật lý từ nơi này đến nơi khác. Chẳng bao lâu nữa, vật lý thiên văn sẽ khám phá ra siêu không gian. Khái niệm này có thể được giải thích bằng hình học đa chiều. Khi một vật thể được đưa vào siêu không gian, người ta nói rằng nó đã bước vào trạng thái Jinn. Trong trạng thái Jinn, vật thể thoát khỏi định luật hấp dẫn và trôi nổi trong siêu không gian.
Có thể tích và cũng có siêu thể tích. Những người được gọi là phù thủy di chuyển trong siêu thể tích của không gian cong nơi chúng ta đang sống. Không chỉ Trái Đất mới có không gian cong. Toàn bộ vũ trụ vô tận đều là không gian cong. Nếu những cơn lốc xoáy là bằng chứng cho thấy Trái Đất đang quay, thì chuyển động quay của các mặt trời, các chòm sao và các thế giới cũng là bằng chứng cụ thể cho độ cong của không gian.
Các pháp sư trắng cũng biết cách đưa cơ thể vật chất của mình vào trạng thái Jinn. Chúa Giêsu đã đi trên mặt nước biển Ga-li-lê nhờ sử dụng siêu không gian một cách khéo léo. Các đệ tử của Đức Phật cũng dùng siêu không gian để đi xuyên qua đá. Tại Ấn Độ, các bậc yogi sử dụng siêu không gian để bước qua lửa mà không bị thiêu cháy. Thánh Phêrô đã dùng siêu không gian để thoát khỏi ngục tù và tự cứu mình khỏi án tử hình. Bậc yogi vĩ đại Patanjali nói trong các cách ngôn của mình rằng, bằng cách áp dụng samyama8 lên cơ thể vật chất, cơ thể ấy sẽ dần trở nên nhẹ như bông và có thể lơ lửng trong không trung.
Một Samyama gồm ba bước: quán tưởng, thiền và định (samadhi)9. Trước hết, bậc Yogi quán tưởng về cơ thể vật chất của mình. Tiếp theo, người ấy thiền về cơ thể vật chất cho đến khi đạt trạng thái ngủ10. Cuối cùng, trong trạng thái định, người ấy ngồi dậy và rời khỏi giường với cơ thể đang ở trong trạng thái Jinn. Khi đó, họ có thể đi vào siêu không gian, thoát khỏi luật hấp dẫn và lơ lửng trong không trung.
Bài thực hành bổ sung
Khi thức dậy sau giấc ngủ bình thường, mỗi học trò Gnosis cần thực hành hồi tưởng lại những giấc mơ của mình, cố nhớ lại tất cả những nơi đã đi qua trong lúc ngủ. Chúng ta đã biết rằng cái tôi thường lang thang đến nhiều nơi, lặp lại những điều đã thấy và đã nghe. Chính trong những lúc ở ngoài cơ thể vật chất, người đệ tử nhận được sự hướng dẫn từ các Chân Sư.
Điều cấp thiết là phải học cách nhập định sâu, rồi đem vào thực hành những gì đã học được trong lúc ngủ. Không được cử động khi vừa tỉnh giấc, vì bất kỳ chuyển động nào cũng làm cơ thể cảm xúc bị lay động và khiến ký ức tan biến. Điều hết sức quan trọng là kết hợp các bài tập hồi tưởng với câu thần chú sau:
RA-ÔM GA-ÔM.
Mỗi từ được chia thành hai âm tiết, và nguyên âm Ô phải được nhấn mạnh. Câu thần chú này có tác dụng đối với người học trò giống như thuốc nổ đối với người thợ mỏ. Cũng như người thợ mỏ dùng thuốc nổ để mở đường vào lòng đất, người học trò dùng câu thần chú ấy để mở một lối đi vào ký ức của tiềm thức.
Sáu chiều không gian cơ bản
Ngoài ba chiều đã biết là chiều dài, chiều rộng và chiều cao, còn có chiều thứ tư: thời gian. Vượt lên trên thời gian là chiều thứ năm: vĩnh cửu. Tuy nhiên, chúng tôi có thể khẳng định rằng vượt lên trên cả thời gian lẫn vĩnh cửu còn có chiều thứ sáu. Chính trong chiều không gian nền tảng này, sự giải phóng hoàn toàn bắt đầu. Chỉ người đã thức tỉnh trong cả sáu chiều cơ bản của không gian mới thật sự là người có thấu thị, một Turiya, một bậc khai sáng chân chính.
Tuổi thọ
Đối với mọi sinh vật, mỗi nhịp đập của trái tim đều tương ứng với một Đơn Vị Sự Sống. Mọi sinh vật đều có một khoảng thời gian sống nhất định. Tuổi thọ của một hành tinh được tính bằng 2.700.000.000 nhịp đập. Con số ấy cũng đúng với con kiến, con sâu, đại bàng, vi khuẩn, con người, và nói chung là với mọi sinh vật. Vì thế, xét theo tỷ lệ, tuổi thọ của mỗi thế giới và mỗi sinh vật đều như nhau. Điều khác biệt chỉ là nhịp độ. Mỗi nhịp đập của một thế giới diễn ra trong chu kỳ 27.000 năm, trong khi trái tim của loài côn trùng đập nhanh hơn rất nhiều. Một con côn trùng chỉ sống trong một buổi chiều hè cũng có cùng số nhịp đập như một hành tinh; chỉ có điều những nhịp đập ấy diễn ra nhanh hơn.
Thời gian không phải là một đường thẳng như những chuyên gia vô minh vẫn tưởng. Thời gian là một đường cong khép kín. Vĩnh cửu là một điều khác hẳn. Vĩnh cửu không liên quan gì đến thời gian, và chỉ những Đạo sư vĩ đại đã khai ngộ, những bậc Thầy của nhân loại, mới biết đến điều vượt ngoài cả vĩnh cửu lẫn thời gian.
Có ba chiều không gian đã được biết đến và ba chiều không gian còn chưa được biết đến. Tổng cộng có sáu chiều không gian cơ bản. Ba chiều đã biết là chiều dài, chiều rộng và chiều cao. Ba chiều chưa biết là thời gian, vĩnh cửu, và điều vượt lên trên cả thời gian lẫn vĩnh cửu. Đó là đường xoắn ốc gồm sáu vòng cung. Thời gian thuộc về chiều thứ tư. Vĩnh cửu thuộc về chiều thứ năm. Điều vượt lên trên cả thời gian lẫn vĩnh cửu thuộc về chiều thứ sáu. Tính cách sống trong một vòng cung khép kín của thời gian. Nó là đứa con của thời gian và chết đi trong chính thời gian của nó. Tính cách không thể đầu thai. Không có tương lai nào dành cho tính cách con người.
Vòng tròn thời gian quay trong vòng tròn của vĩnh cửu. Trong vĩnh cửu không có thời gian, nhưng thời gian vẫn quay trong vòng tròn của vĩnh cửu. Con rắn luôn tự cắn đuôi mình. Thời gian và tính cách rồi sẽ kết thúc, nhưng khi bánh xe quay thì một thời gian mới và một tính cách mới lại xuất hiện trên Trái Đất. Cái tôi đầu thai, và mọi thứ được lặp lại. Những kinh nghiệm, cảm xúc, mối bận tâm, tình cảm và lời nói cuối cùng sẽ trở thành nguồn gốc của mọi cảm giác tình dục và toàn bộ màn kịch tình ái dẫn đến sự hình thành một cơ thể vật chất mới. Mọi chuyện tình cảm giữa vợ chồng và những người yêu nhau đều có liên hệ với những giây phút cuối cùng của người hấp hối. “Con đường của sự sống được hình thành từ dấu vó ngựa của Tử Thần.” Với cái chết, thời gian khép lại và vĩnh cửu mở ra. Vòng tròn của vĩnh cửu trước hết mở ra, rồi khép lại khi cái tôi quay trở về vòng tròn của thời gian.
Trạng thái Jinn
Điểm là mặt cắt của đường thẳng. Đường thẳng là mặt cắt của mặt phẳng. Mặt phẳng là mặt cắt của vật thể ba chiều. Vật thể ba chiều là mặt cắt của vật thể bốn chiều. Mọi vật thể đều có bốn chiều. Chiều thứ tư, hay trục thứ tư, là nền tảng căn bản của mọi cơ chế. Khoảng không gian giữa các phân tử thuộc về chiều thứ tư.
Trong thế giới ba chiều của chiều dài, chiều rộng và chiều cao, chúng ta không bao giờ nhìn thấy một vật thể một cách trọn vẹn. Chúng ta chỉ thấy các cạnh, mặt phẳng, góc, v.v. Vì thế, nhận thức của chúng ta luôn không đầy đủ và mang tính chủ quan. Trong chiều thứ tư, nhận thức trở nên khách quan. Ở đó, chúng ta có thể nhìn thấy vật thể từ phía trước, phía sau, bên trên, bên dưới, bên trong và bên ngoài, nghĩa là nhìn thấy nó một cách hoàn chỉnh. Trong chiều thứ tư, mọi vật thể đều hiện ra trọn vẹn trong cùng một lúc. Chính vì vậy, nhận thức ở đó mang tính khách quan.
Với quyền năng của Con Rắn Bay, chúng ta có thể đưa cơ thể vật chất ra khỏi thế giới ba chiều và đặt nó vào chiều không gian thứ tư. Ở những trạng thái cao cấp hơn, chúng ta có thể đưa cơ thể vật chất vào chiều không gian thứ năm hay thứ sáu.
Nói chung, các chiều không gian được biểu thị bằng các lũy thừa: bậc một, bậc hai, bậc ba, bậc bốn, v.v. Chính điều này đã tạo cơ sở cho Hinton xây dựng lý thuyết nổi tiếng về khối Tesseract, hay khối rắn bốn chiều — A⁴, tức A được nâng lên lũy thừa bậc bốn. Đây là cách biểu thị các chiều dưới dạng lũy thừa. Nhiều tác giả cho rằng toán học không liên quan gì đến các chiều không gian, bởi theo họ giữa các chiều không có sự khác biệt thực sự nào. Chúng tôi cho rằng quan điểm ấy là sai lầm. Theo chúng tôi, sự khác biệt giữa các chiều là hoàn toàn rõ ràng, và toàn thể vũ trụ được xây dựng theo các định luật của số lượng, kích thước và khối lượng. Vấn đề là chừng nào tâm trí còn bị giam cầm trong lôgic hình thức, chúng ta vẫn sẽ tiếp tục giới hạn việc áp dụng toán học vào thế giới ba chiều. Chúng ta cần đến lôgic biện chứng để hiểu rằng việc biểu thị các chiều bằng lũy thừa là hoàn toàn hợp lý. Điều này chỉ có thể được hiểu bằng phép biện chứng, bằng lôgic biện chứng.
Siêu hình học nghiên cứu các không gian cao cấp. Bộ môn này được dùng để thay thế hoàn toàn cho hình học ba chiều Euclid. Thật ra, hình học Euclid chỉ dùng để khảo sát các thuộc tính của một không gian vật lý nhất định. Tuy nhiên, nếu từ bỏ việc nghiên cứu trục thứ tư, thì rõ ràng sự phát triển của vật lý học sẽ bị đình trệ. Bí mật cốt lõi của mọi cơ chế máy móc nằm trong chiều không gian thứ tư.
Siêu hình học có công trong việc xem thế giới ba chiều như một phần của một không gian cao cấp hơn. Một điểm trong không gian ba chiều chỉ là mặt cắt của một đường siêu hình học. Với lôgic hình thức, chúng ta không thể xem các đường siêu hình học như những khoảng cách giữa các điểm trong không gian của mình, cũng không thể biểu thị chúng bằng những hình thể của không gian ấy. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của lôgic biện chứng, các đường siêu hình học có thể được biểu hiện qua những khoảng cách giữa các điểm trong không gian của chúng ta, và cũng có thể được mô tả bằng hình thể cùng các thuộc tính của chúng.
Vì thế, không có gì vô lý khi nói rằng lục địa Bắc Cực thuộc về chiều không gian thứ tư. Dưới ánh sáng của tư duy biện chứng, cũng không có gì phi lý khi khẳng định rằng cư dân của lục địa ấy có cơ thể vật chất. Chúng ta thậm chí có thể vẽ bản đồ của lục địa đó, và điều này hoàn toàn có thể được chấp nhận bởi lôgic biện chứng. Ngược lại, lôgic hình thức không những xem những khẳng định ấy là vô lý, mà còn dễ dẫn chúng ta đến sai lầm.
Tính ba chiều của thế giới chắc chắn tồn tại trong tâm thức của chúng ta, trong hệ cơ quan tiếp nhận của chúng ta. Chính tại đó, nếu phát triển năng lực thấu thị, thấu thính, v.v., nghĩa là nếu hoàn thiện hệ cơ quan ngoại cảm của mình, chúng ta có thể nhận biết những điều kỳ diệu của siêu không gian đa chiều. Chỉ bằng cách phát triển các siêu năng lực nhận thức nội tại, chúng ta mới có thể nghiên cứu những chiều không gian cao cấp của tự nhiên. Tuy nhiên, một số khuynh hướng tư duy chỉ chấp nhận những gì có thể được khảo sát bằng các giác quan vật lý đã vô tình tạo ra những giới hạn đối với việc nghiên cứu các hiện tượng vượt ngoài phạm vi vật chất thông thường. Vì thế, bất kỳ ai đề xuất một cách tiếp cận khác thường cũng dễ bị xem là phi khoa học hoặc thiếu cơ sở. Chúng tôi, những người theo Gnosis, chủ trương một tinh thần tìm tòi cởi mở và cho rằng việc nghiên cứu tâm thức cùng các chiều không gian cao cấp của tự nhiên không nên bị giới hạn bởi bất kỳ khuôn khổ tư duy cố định nào.
Immanuel Kant, triết gia vĩ đại người Đức, xem không gian là một thuộc tính của tâm thức trong quá trình nhận thức về thế giới. Ông nói: “Chúng ta mang trong mình những điều kiện của không gian riêng mình; vì thế, chính trong bản thân mình, chúng ta sẽ tìm thấy những điều kiện cho phép thiết lập mối tương quan giữa không gian của mình với những không gian cao cấp hơn.”
Khi kính hiển vi được phát minh, thế giới của những điều vô cùng nhỏ bé đã mở ra trước mắt con người. Tương tự như vậy, khi giác quan thứ sáu thức tỉnh, thế giới của chiều không gian thứ tư cũng sẽ mở ra trước mắt chúng ta.
-Samael Aun Weor, “Hôn nhân hoàn hảo”
Chú thích
- Jaldabaoth (Yaldabaoth): Jaldabaoth là một thực thể gắn liền với vô minh, cái tôi và thế giới vật chất thấp kém. Trong nhiều biểu tượng Gnosis, các “con quỷ của Jaldabaoth” tượng trưng cho những khuyết điểm tâm lý và các yếu tố vô minh giam cầm tâm thức trong tiềm thức và vật chất. Tham khảo: https://en.wikipedia.org/wiki/Yaldabaoth
↩︎ - Charles Webster Leadbeater (1854–1934): nhà huyền học người Anh, giám mục của Giáo hội Công giáo Tự do và là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của Hội Thông Thiên Học. Ông nổi tiếng với các tác phẩm về luân xa, thể vía, ngoại cảm, thấu thị và các cõi giới siêu hình. Nhiều mô tả hiện đại về hệ thống luân xa trong huyền học phương Tây chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các trước tác của ông. Tham khảo: https://en.wikipedia.org/wiki/Charles_Webster_Leadbeater
↩︎ - Sự hoài nghi kiểu Đề-các-tơ (Cartesian skepticism): phương pháp triết học của René Descartes (R. Đề-các-tơ), theo đó mọi niềm tin đều được đặt vào trạng thái hoài nghi để tìm ra điều chắc chắn không thể phủ nhận. Tham khảo: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ren%C3%A9_Descartes
↩︎ - Hệ Mặt Trời Ors: thuật ngữ “Ors” xuất hiện trong tác phẩm Beelzebub’s Tales to His Grandson của G. I. Gurdjieff, nơi hệ mặt trời này được gọi là “Ors”. Samael Aun Weor về sau cũng dùng lại thuật ngữ này trong các giáo lý Gnosis của mình. Tham khảo: https://en.wikipedia.org/wiki/Beelzebub%27s_Tales_to_His_Grandson
↩︎ - Pralaya: https://gnosisvn.org/2021/09/24/pralaya/ ↩︎
- Mahamanvantara: https://gnosisvn.org/2024/03/13/mahamanvantara-va-pralaya-ngay-va-dem-cua-vu-tru/
↩︎ - Trạng thái Jinn: đây là trạng thái trong đó một vật thể hoặc cơ thể vật lý được đưa vào chiều không gian thứ tư (siêu không gian), nhờ đó không còn hoàn toàn chịu sự chi phối của các định luật vật lý thông thường. Trong trạng thái này, vật thể có thể trở nên vô hình, xuyên qua vật chất, di chuyển trong không gian theo những cách không thể giải thích bằng cơ học ba chiều. Thuật ngữ “Jinn” có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập và mang nghĩa “ẩn hình”. Tham khảo: https://gnosisvn.org/2017/01/20/trang-thai-jinn/ ↩︎
- Samyama:
“III.43. Khi tập Samyama đối với mối quan hệ giữa Akasha và cơ thể và việc trở nên nhẹ như bông-len, v.v., khi quán tưởng về chúng, bậc Yogi có thể bay qua trời.” (Yoga Sutra của Patanjali)
Lời giải của Swami Vivekananda: Akasha là bản chất của cơ thể này; khi Akasha được biểu hiện ở một hình dáng nhất định thì nó hình thành một cơ thể. Nếu một bậc Yogi thực hiện Samyama trên chất Akasha của cơ thể, nó sẽ trở nên nhẹ như Akasha và họ có thể đi bất kỳ chỗ nào thông qua không khí. ↩︎ - Quán tưởng, thiền, định: Ba khía cạnh cuối cùng trên con đường Ashtanga Yoga của Patanjali là Dharana (quán tưởng), Dhyana (thiền), và Samadhi (định). Lời giải thích sau này được dịch từ Yoga Sutra của Patanjali, phiên bản Swami Vivekananda dịch:
“IIII.1. Dhāranā (quán tưởng) tức là chú tâm vào một đối tượng nhất định.
III.2. Khi nào tập trung liên tục vào đối tượng, đó là Dhyāna (thiền).
Lời giải của Swami Vivekenanda: Tâm cố tập trung ý niệm ở một nơi, ví dụ như đỉnh đầu, trái tim, v.v. Khi thành công trong việc tập trung giác quan ở bộ phận đó và không nhận tin hiệu giác quan từ bất kỳ chỗ nào khác, đó là Dhāranā (quán tưởng), và khi tâm thành công trong việc duy trì trạng thái đó trong một thời gian, mình gọi đó là Dhyāna (Thiền).
III.3. Khi [Dhyāna] từ bỏ tất cả các loại hình thức và chỉ phản chiếu mỗi ý nghĩa thì đó là Samādhi (định).”
Lời giải của Swami Vivekananda: Việc này xảy ra khi trong thiền chúng ta bỏ hình thức bên ngoài. Giả sử tôi đang quán tưởng về một cuốn sách và dần dần tôi đã thành công trong việc tập trung tâm vào đó, và chỉ cảm nhận ý nghĩa [của đối tượng] từ bên trong, [dù ý nghĩa đó] không được biểu hiện ở bất kỳ hình thức nào – trạng thái đó được gọi là định (Samādhi).
III.4. Khi áp dụng cả ba trạng thái ở trên với một đối tượng, đó là Samyama.
Lời giải của thầy Vivekananda: Khi một người có thể chú tâm vào một đối tượng nhất định, và duy trì sự tập trung trong một khoảng thời gian, với đối tượng tách ra khỏi phần bên trong, đó là Samyama; hay còn gọi là Dharana, Dhyana, và Samadhi, cả ba khía cạnh liên tiếp nhau và trở thành một. Hình thức đã biến mất và chỉ còn mỗi ý nghĩa được để lại trong tâm.
[…]
III.43. Khi tập Samyama đối với mối quan hệ giữa Akasha và cơ thể và việc trở nên nhẹ như bông-len, v.v., khi quán tưởng về chúng, bậc Yogi có thể bay qua trời.
Lời giải của Swami Vivekananda: Akasha là bản chất của cơ thể này; khi Akasha được biểu hiện ở một hình dáng nhất định thì nó hình thành một cơ thể. Nếu một bậc Yogi thực hiện Samyama trên chất Akasha của cơ thể, nó sẽ trở nên nhẹ như Akasha và họ có thể đi bất kỳ chỗ nào thông qua không khí. ↩︎ - Thiền đến khi đạt trạng thái ngủ: đây không phải là trạng thái ngủ thông thường. Trong trạng thái này, cơ thể vật chất ngủ nhưng tâm thức vẫn duy trì sự tỉnh giác. ↩︎


Gửi phản hồi