Nhu cầu và lòng tham

By

·

26–40 phút

Lòng tham là nguyên nhân sâu kín của hận thù và sự tàn bạo trên thế giới này. Nhiều khi, sự tàn bạo khoác lên mình lớp áo của luật pháp. Lòng tham là nguồn gốc của chiến tranh và mọi đau khổ trên thế giới. Nếu muốn xóa bỏ lòng tham khỏi thế giới, trước hết chúng ta phải hiểu thấu đáo rằng thế giới ấy nằm ngay trong chính mình.

– Samael Aun Weor

Người cho vay và vợ – Quentin Metsys – Bảo tàng Louvre, Bộ sưu tập Hội họa, INV 1444; MR 821. Bức tranh khắc họa một người cho vay đang chăm chú cân tiền, trong khi người vợ bên cạnh cũng bị cuốn sự chú ý về phía của cải vật chất.

Nhu cầu của con người

Tiền bạc

Tại sao tiền bạc lại mang một tầm quan trọng quá lớn trong đời sống của chúng ta? Phải chăng chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào nó để có được hạnh phúc về mặt tâm lý? Tất cả mọi người đều cần cơm ăn, áo mặc và nơi trú ngụ; điều đó ai cũng biết. Nhưng tại sao điều vốn tự nhiên và đơn giản đối với chim trời lại mang một tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn đến thế? Tiền bạc mang một giá trị phóng đại và không cân xứng vì, về mặt tâm lý, chúng ta phụ thuộc vào nó để tìm kiếm hạnh phúc. Tiền bạc nuôi lớn lòng hư vinh, đem lại cho chúng ta uy tín xã hội và phương tiện để đạt được quyền lực. Tâm trí đã sử dụng tiền bạc cho những mục đích hoàn toàn khác với chức năng vốn có của nó, mà một trong những chức năng ấy chỉ đơn giản là đáp ứng những nhu cầu vật chất trước mắt của chúng ta. Tiền bạc đang bị sử dụng cho những mục đích tâm lý; đó là lý do vì sao nó mang một tầm quan trọng phóng đại và không cân xứng.

Chúng ta cần tiền để có cơm ăn, áo mặc và nơi ở; điều đó là hiển nhiên. Nhưng khi tiền bạc trở thành một nhu cầu tâm lý, khi chúng ta sử dụng nó cho những mục đích vượt ra ngoài chức năng vốn có của nó, khi chúng ta phụ thuộc vào nó để tìm kiếm danh tiếng, uy tín, địa vị xã hội, v.v., thì tiền bạc sẽ mang một tầm quan trọng phóng đại và không cân xứng trong tâm trí. Từ đó nảy sinh sự đấu tranh và xung đột để chiếm hữu tiền bạc.

Chúng ta cần kiếm tiền để đáp ứng các nhu cầu vật chất: cơm ăn, áo mặc và chỗ ở; điều đó là hợp lý. Nhưng nếu hoàn toàn phụ thuộc vào tiền bạc để có được hạnh phúc và sự thỏa mãn cá nhân, thì chúng ta là những sinh linh khốn khổ nhất trên trái đất. Khi hiểu thấu đáo rằng tiền chỉ nhằm đáp ứng những nhu cầu ấy, ta sẽ tự nhiên đặt cho nó một giới hạn hợp lý. Khi đó, tiền bạc không còn mang tầm quan trọng quá mức như khi nó trở thành một nhu cầu tâm lý.

Bản thân tiền bạc không tốt cũng không xấu; tất cả tùy thuộc vào cách chúng ta sử dụng nó. Dùng vào mục đích tốt thì nó là tốt; dùng vào mục đích xấu thì nó là xấu.

Chúng ta cần hiểu sâu sắc bản chất của cảm giác và sự thỏa mãn. Tâm trí phải được giải phóng khỏi những ràng buộc ấy thì mới có thể nhận ra chân lý.

Nếu chúng ta thật sự muốn giải phóng tâm trí khỏi những ràng buộc của cảm giác và sự thỏa mãn, thì phải bắt đầu từ những cảm giác quen thuộc nhất với mình, và từ đó đặt nền tảng đúng đắn cho sự thấu hiểu. Cảm giác có vai trò riêng của nó. Khi được thấu hiểu ở mọi cấp độ của tâm trí, cảm giác sẽ không còn bị bóp méo một cách ngớ ngẩn như hiện nay. Nhiều người tin rằng nếu mọi sự vận hành theo trật tự của đảng phái chính trị mà họ theo đuổi, hay theo những lý tưởng mà họ luôn đấu tranh vì chúng, thì thế giới sẽ trở nên hạnh phúc, thịnh vượng, hòa bình và hoàn hảo. Đó là một quan niệm sai lầm, vì những điều ấy không thể tồn tại nếu trước hết mỗi cá nhân chưa hiểu được ý nghĩa đích thực của mọi sự. Con người quá nghèo nàn trong nội tâm, nên cần tiền bạc và vật chất để tìm kiếm cảm giác và sự thỏa mãn. Khi nghèo nàn bên trong, người ta tìm kiếm tiền bạc và những thứ bên ngoài để lấp đầy sự trống rỗng ấy và tìm kiếm sự thỏa mãn. Chính vì thế, tiền bạc và vật chất mang một giá trị không cân xứng, khiến con người sẵn sàng trộm cắp, bóc lột và nói dối. Từ đó nảy sinh cuộc đấu tranh giữa tư bản và người lao động, giữa chủ và thợ, giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, v.v.

Mọi thay đổi chính trị đều vô ích nếu trước hết chúng ta chưa hiểu được sự nghèo nàn trong nội tâm của chính mình. Các hệ thống kinh tế có thể thay đổi hết lần này đến lần khác, các cơ cấu xã hội có thể liên tục biến đổi; nhưng nếu không thấu hiểu sâu sắc bản chất của sự nghèo nàn nội tâm ấy, con người sẽ luôn tìm ra những phương tiện và cách thức mới để thỏa mãn bản thân bằng cái giá phải trả là sự bình an của người khác.

Điều cấp thiết là phải thấu hiểu sâu sắc bản chất của cái bản thân tôi này, nếu chúng ta thật sự muốn trở nên giàu có trong nội tâm. Người giàu có trong nội tâm không thể bóc lột người khác, không thể trộm cắp hay nói dối. Người giàu có trong nội tâm đã thoát khỏi những ràng buộc của cảm giác và sự thỏa mãn cá nhân. Người ấy là người đã tìm thấy hạnh phúc.

Chúng ta cần tiền; đó là sự thật. Nhưng chúng ta cần hiểu thấu đáo mối quan hệ đúng đắn của mình với tiền bạc. Cả người khổ hạnh lẫn kẻ keo kiệt đều chưa bao giờ hiểu được mối quan hệ đúng đắn ấy. Từ bỏ tiền bạc hay thèm khát nó đều không giúp chúng ta hiểu được điều đó. Chỉ có sự thấu hiểu mới giúp chúng ta đáp ứng những nhu cầu vật chất một cách khôn ngoan mà không trở thành nô lệ của tiền bạc.

Khi hiểu được mối quan hệ đúng đắn với tiền bạc, chúng ta sẽ chấm dứt nỗi đau do thiếu thốn cũng như nỗi khổ do cạnh tranh. Chúng ta cần học cách phân biệt giữa nhu cầu vật chất trước mắt và sự phụ thuộc tâm lý vào vật chất. Chính sự phụ thuộc tâm lý ấy sinh ra bóc lột và nô lệ.

Chúng ta cần tiền để đáp ứng những nhu cầu vật chất trước mắt. Đáng tiếc thay, nhu cầu ấy lại biến thành lòng tham. Cái tôi tâm lý, khi nhận ra sự trống rỗng và khốn khổ của chính mình, thường gán cho tiền bạc và vật chất một giá trị khác với giá trị vốn có của chúng — một giá trị phóng đại và phi lý. Đó là cách cái tôi muốn tự khẳng định mình, muốn làm người khác lóa mắt bằng tiền bạc và của cải. Ngày nay, mối quan hệ của chúng ta với tiền bạc được xây dựng trên lòng tham. Chúng ta luôn lấy nhu cầu làm cái cớ để biện minh cho lòng tham. Lòng tham là nguyên nhân sâu kín của hận thù và những tàn bạo trên thế giới; nhiều khi, những tàn bạo ấy còn khoác lên mình dáng vẻ của luật pháp. Lòng tham cũng là nguyên nhân của chiến tranh và mọi khổ đau trên thế giới này. Nếu muốn chấm dứt lòng tham của thế giới, trước hết chúng ta phải hiểu thấu đáo rằng thế giới ấy nằm ngay trong chính mình. Chúng ta là thế giới. Lòng tham của người khác cũng ở trong chúng ta. Thật vậy, toàn thể nhân loại đang sống trong ý thức của mỗi người. Lòng tham của thế giới nằm trong từng cá nhân. Chỉ khi chấm dứt lòng tham nơi chính mình, lòng tham của thế giới mới chấm dứt. Chỉ khi thấu hiểu toàn bộ tiến trình phức tạp của lòng tham ở mọi tầng bậc của tâm trí, chúng ta mới có thể trực tiếp trải nghiệm Thực tại vĩ đại.

Thực hành

1. Nằm ngửa, dang rộng hai tay và hai chân theo hình ngôi sao.

2. Bây giờ, hãy hướng sự chú ý vào những nhu cầu vật chất hiện tại của bạn.

3. Hãy thiền. Suy ngẫm về từng nhu cầu đó.

4. Hãy chìm vào trạng thái buồn ngủ, đồng thời tự khám phá ranh giới giữa nhu cầu và lòng tham.

5. Nếu thực hành đúng bài tập trung và thiền nội tâm, bạn sẽ thấy một hình ảnh nội tâm giúp mình nhận ra đâu là nhu cầu chính đáng và đâu là lòng tham của bản thân.

Hãy nhớ rằng chỉ khi hiểu sâu sắc nhu cầu và lòng tham, chúng ta mới có thể đặt nền tảng vững chắc cho quá trình suy nghĩ đúng đắn.

Tham vọng

Tham vọng có nhiều nguyên nhân, và một trong số đó là nỗi sợ.

Cậu bé khiêm nhường đánh giày cho những quý ông phù phiếm trong các công viên của thành phố lớn rất có thể sẽ trở thành một tên trộm nếu bắt đầu sợ nghèo đói, lo cho bản thân hay cho tương lai của mình.

Người thợ may khiêm tốn làm việc trong xưởng may sang trọng của các ông chủ giàu có có thể trở thành kẻ trộm hoặc gái mại dâm chỉ sau một đêm nếu bắt đầu cảm thấy lo lắng về tương lai, lo cho cuộc sống, sợ tuổi già hay quá lo cho bản thân.

Người phục vụ lịch thiệp trong nhà hàng sang trọng của một khách sạn lớn có thể trở thành một tên xã hội đen, một kẻ cướp ngân hàng hay một tên trộm chuyên nghiệp, nếu một ngày kia anh ta bắt đầu lo lắng cho bản thân, cho công việc phục vụ khiêm tốn của mình, sợ hãi trước tương lai, v.v.

Con kiến nhỏ bé khao khát trở thành con voi. Người bán hàng tội nghiệp đứng phục vụ khách, kiên nhẫn giới thiệu cho chúng ta chiếc cà vạt, chiếc áo sơ mi, đôi giày. Trong khi cúi chào nhiều lần và mỉm cười hiền lành, họ lại khao khát một điều gì đó khác, bởi trong lòng họ có nỗi sợ — một nỗi sợ khủng khiếp: sợ nghèo khó, sợ tương lai ảm đạm, sợ tuổi già, v.v.

Tham vọng có nhiều khuôn mặt: khuôn mặt của thánh nhân và khuôn mặt của ác quỷ, khuôn mặt của đàn ông và khuôn mặt của phụ nữ, khuôn mặt của quan tâm và khuôn mặt của thờ ơ, khuôn mặt của đức hạnh và khuôn mặt của tội lỗi.

Tham vọng có cả ở nơi người khao khát kết hôn, cũng như ở kẻ suốt đời căm ghét hôn nhân.

Tham vọng có trong người điên cuồng khao khát danh tiếng, chức vị, địa vị và muốn leo lên đỉnh cao; nhưng tham vọng cũng có trong người muốn trở thành ẩn sĩ, không còn mong cầu gì ở thế gian, vì tham vọng duy nhất của họ là lên thiên đường, là được giải thoát, v.v.

Có tham vọng vật chất và cũng có tham vọng tâm linh. Đôi khi tham vọng còn khoác lên mình chiếc mặt nạ của sự công chính và sự hy sinh.

Ai không ham muốn thế giới thấp kém và khốn khổ này thì lại ham muốn một thế giới khác; ai không ham muốn tiền bạc thì lại ham muốn siêu năng lực tâm linh.

Cái tôi, cái “bản thân tôi”, thích che giấu tham vọng, thích giấu nó vào những góc khuất nhất của tâm trí, rồi tự nhủ: “Tôi không tham vọng; tôi yêu thương đồng loại; tôi hành động công chính, vô tư, vì lợi ích của toàn thể nhân loại.”

Nhà chính trị khôn ngoan, tưởng như biết hết mọi điều, đôi khi khiến công chúng kinh ngạc với những dự án có vẻ công chính của mình; nhưng khi nhiệm kỳ kết thúc, việc họ rời khỏi đất nước với vài triệu đô la lại là chuyện bình thường.

Tham vọng khoác lên mình lớp vỏ của sự công chính và vô tư thường đánh lừa được cả những người tinh tường nhất.

Có nhiều người trên thế giới này có tham vọng là không có tham vọng gì cả.

Có nhiều người từ bỏ sự hào nhoáng và phù phiếm của thế gian vì tham vọng duy nhất của họ là hoàn thiện bản thân bên trong.

Người sám hối quỳ gối trong đền thờ, đầy đức tin tự đánh roi vào thân mình. Dường như họ không còn ham muốn gì nữa, thậm chí còn có thể cho đi mà không lấy của ai điều gì; nhưng rõ ràng họ vẫn ham muốn phép màu: mong được chữa lành cho bản thân hoặc cho người thân, hay khao khát sự cứu rỗi đời đời.

Chúng tôi ngưỡng mộ những người thật sự mộ đạo, nhưng lấy làm tiếc rằng họ không yêu tôn giáo của mình một cách hoàn toàn vô tư.

Các tôn giáo thiêng liêng, các trường phái, dòng tu, hội đoàn tâm linh, v.v., đều xứng đáng được yêu mến bằng một tình yêu vô tư. Đáng buồn thay, trên thế gian này hiếm có ai yêu tôn giáo, trường phái hay giáo phái của mình bằng một tình yêu như vậy.

Cả thế giới này đầy tham vọng. Hitler đã lao vào chiến tranh vì tham vọng.

Mọi cuộc chiến tranh đều bắt nguồn từ sợ hãi và tham vọng. Mọi vấn đề nghiêm trọng nhất của cuộc sống đều bắt nguồn từ tham vọng.

Cả thế giới sống trong cuộc đấu tranh của tham vọng — người này chống lại người kia, và mọi người chống lại nhau.

Mọi người trong cuộc sống đều khao khát trở thành một “ai đó”. Những người có tuổi, giáo viên, cha mẹ, gia sư, v.v., đều khuyến khích trẻ em và thanh thiếu niên đi theo con đường khủng khiếp của tham vọng. Người lớn nói với học sinh: “Con phải trở thành người có tên tuổi, phải giàu có, kết hôn với một triệu phú, có quyền lực”, v.v.

Những thế hệ đi trước, lạc hậu và lỗi thời, lại muốn các thế hệ sau cũng trở nên tham vọng, lạc hậu và đáng sợ như họ. Điều nghiêm trọng nhất là thế hệ mới cũng để mình bị cuốn theo và bị dẫn dắt vào con đường khủng khiếp của tham vọng.

Thầy cô cần dạy học sinh hiểu rằng không có nghề nghiệp lương thiện nào đáng bị coi thường. Thật vô lý khi coi thường người lái taxi, nhân viên bán hàng, nông dân, người đánh giày, v.v.

Mọi công việc khiêm tốn đều đẹp đẽ. Mọi công việc khiêm tốn đều cần thiết trong xã hội này.

Không phải tất cả chúng ta đều sinh ra để trở thành kỹ sư, lãnh đạo, tổng thống, bác sĩ, luật sư, v.v.

Trong tập đoàn xã hội, tất cả mọi công việc và nghề nghiệp đều cần thiết. Không một công việc lương thiện nào là đáng khinh cả.

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi con người đều có ích cho một việc nào đó, và quan trọng là phải biết mỗi người chúng ta có ích cho cái gì.

Thầy cô có bổn phận phát hiện thiên hướng của từng học sinh và hướng các em theo con đường ấy.

Người nào có công việc trong cuộc sống đúng theo thiên hướng của mình thì sẽ làm việc với tình yêu đích thực và không có tham vọng.

Tình yêu phải thay thế tham vọng. Thiên hướng nghề nghiệp là điều ta thực sự yêu thích, là công việc ta làm với niềm vui, bởi đó là điều ta ưa thích, điều ta yêu. Thật không may, trong đời sống hiện đại, con người làm việc một cách miễn cưỡng và vì tham vọng, bởi họ theo đuổi những công việc không phù hợp với thiên hướng của mình.

Khi chúng ta làm công việc mình yêu thích, đúng với thiên hướng nghề nghiệp thực sự của mình, ta sẽ làm việc với tình yêu, bởi chính thiên hướng ấy phản ánh những năng khiếu của ta trong cuộc sống.

Đó chính là công việc của người thầy: biết định hướng cho học sinh, nhận ra năng lực của từng em và dẫn dắt các em theo con đường thiên hướng chân thật của mình.

– Samael Aun Weor, “Giáo dục nền tảng”


Thiên hướng nghề nghiệp

Mỗi con người đều phải phục vụ cho một mục đích trong cuộc đời; cái khó là biết được mỗi cá nhân có ích cho mục đích gì.

Nếu có điều gì thực sự quan trọng trên đời này, thì đó là biết chính mình. Hiếm có ai thực sự hiểu chính mình; và dù nghe có vẻ khó tin, rất khó để tìm được một người đã phát triển được ý thức về thiên hướng của mình trong đời.

Khi một người hoàn toàn xác tín về vai trò mình phải đảm nhận trong đời, họ sẽ biến thiên hướng của mình thành một sứ mệnh, một tôn giáo; và thực sự, họ trở thành một sứ giả của nhân loại theo cách riêng của mình.

Người nào biết được thiên hướng của mình, hoặc có khả năng tự khám phá ra thiên hướng ấy, đều trải qua một sự chuyển hóa lớn lao. Người ấy không còn chạy theo thành công, cũng không quá bận tâm đến tiền bạc, danh vọng hay sự biết ơn của người khác. Niềm vui của họ giờ đây nằm ở chỗ đã đáp lại tiếng gọi huyền nhiệm từ sâu thẳm của bản thể bên trong mình.

Điều thú vị là sự nhận biết thiên hướng của mình không liên quan gì đến cái tôi, dù điều này có vẻ kỳ lạ. Trái lại, chính cái tôi lại ghê sợ thiên hướng thật sự của chúng ta, vì điều nó ham muốn chỉ là lương cao, địa vị, danh tiếng, v.v.

Ý thức về thiên hướng thuộc về bản chất bên trong của chúng ta; đó là một điều sâu thẳm bên trong và rất riêng tư. Chính ý thức ấy dẫn dắt con người thực hiện những công trình vĩ đại với lòng quả cảm và sự công chính vô tư, bất chấp mọi gian khổ. Vì thế, việc cái tôi ghê sợ thiên hướng đích thực của chúng ta cũng là điều dễ hiểu.

Ý thức về thiên hướng lập tức đưa chúng ta bước vào con đường của chủ nghĩa anh hùng đích thực, dù phải kiên cường chịu đựng mọi sự nhục mạ, phản bội và vu khống.

Từ khoảnh khắc một người có thể thật sự nói rằng: “Tôi biết mình là ai và thiên hướng đích thực của mình là gì”, người ấy bắt đầu sống đúng đắn, với tình yêu đích thực. Người ấy sống trong công việc của mình, và công việc sống trong người ấy.

Thực ra, rất ít người có thể nói như thế một cách chân thành từ trái tim. Đó là số ít người được chọn, những người có ý thức về thiên hướng ở mức độ cao nhất.

Khám phá thiên hướng đích thực của mình có lẽ là vấn đề xã hội quan trọng nhất, bởi đó là nền tảng của mọi vấn đề xã hội. Thật vậy, tìm ra thiên hướng đích thực của chính mình cũng giống như khám phá được một kho báu vô giá. Khi thiên hướng đích thực hoàn toàn phù hợp với công việc mà ta đang đảm nhận trong cuộc sống, ta sẽ thực hiện công việc ấy như một sứ mệnh đích thực, không chút tham lam hay khát vọng quyền lực. Khi đó, thay vì khơi dậy lòng tham, sự chán chường hay mong muốn đổi nghề, công việc sẽ đem lại cho ta một niềm vui chân thật, sâu sắc và vô cùng thâm thiết, ngay cả khi ta phải kiên nhẫn gánh chịu những gian khổ đau đớn.

Thực tế cho thấy, khi công việc của một người không phù hợp với thiên hướng của họ, điều duy nhất họ nghĩ đến là “nhiều hơn”. “Nhiều hơn” chính là cơ chế của cái tôi: nhiều tiền hơn, nhiều danh tiếng hơn, nhiều dự án hơn, v.v. Và dĩ nhiên, người ấy rất dễ trở nên đạo đức giả, thích bóc lột, tàn nhẫn, nhẫn tâm, cứng nhắc, v.v.

Tình trạng hỗn loạn của nhân loại trong thời đại khủng hoảng thế giới này thật đáng kinh ngạc. Không ai hài lòng với công việc của mình, vì công việc ấy không phù hợp với thiên hướng nghề nghiệp của họ. Người ta đổ xô đi xin việc vì không ai muốn chết đói, nhưng những công việc ấy lại không tương ứng với thiên hướng của người xin việc.

Nhiều tài xế lẽ ra phải là bác sĩ hoặc kỹ sư. Nhiều luật sư lẽ ra phải là bộ trưởng, và nhiều bộ trưởng lẽ ra phải là thợ may, v.v. Con người đang ở những vị trí không phù hợp với mình, những vị trí chẳng liên quan gì đến thiên hướng nghề nghiệp đích thực của họ; vì thế, bộ máy xã hội vận hành hết sức tồi tệ. Tình trạng ấy chẳng khác nào một cỗ máy được lắp ráp bằng những bộ phận không đúng với thiết kế của nó; kết cục tất yếu chỉ có thể là thảm họa, thất bại và hỗn loạn.

Thực tế cho thấy, khi một người không có thiên hướng trở thành thầy giáo, người hướng dẫn tôn giáo, nhà lãnh đạo chính trị, hay người đứng đầu một tổ chức tâm linh, khoa học, văn học hoặc từ thiện, thì điều duy nhất họ nghĩ đến là “nhiều hơn”. Họ không ngừng lao vào hết dự án này đến dự án khác, nhưng luôn bị chi phối bởi những động cơ thầm kín. Rõ ràng, khi công việc không tương ứng với thiên hướng nghề nghiệp của một người, kết quả tất yếu là sự bóc lột.

Trong thời đại vật chất khủng khiếp mà chúng ta đang sống, không ít con buôn chẳng hề có chút thiên hướng nào đối với nghề giáo lại ngang nhiên đứng trên bục giảng. Sự bỉ ổi ấy tất yếu dẫn đến bóc lột, tàn nhẫn và thiếu vắng tình yêu đích thực.

Nhiều người đi dạy chỉ với mục đích kiếm tiền để trả học phí cho trường y, trường luật hoặc trường kỹ thuật; hoặc đơn giản vì họ không tìm được việc gì khác để làm. Nạn nhân của trò gian lận trí tuệ này chính là học sinh.

Ngày nay, thật khó tìm được một người thầy đúng nghĩa. Có được một người thầy như vậy là niềm may mắn lớn nhất đối với học sinh, từ bậc phổ thông đến đại học.

Thiên chức của người thầy được diễn tả một cách tuyệt đẹp trong đoạn văn xuôi cảm động sau đây, mang tựa đề “Lời cầu nguyện của người thầy”. Trong cuộc đối thoại với Thượng Đế, với Vị Thầy Bí Mật, người thầy ấy cất lời:

Xin ban cho con một tình yêu trọn vẹn dành cho ngôi trường của mình, để ngay cả vẻ đẹp quyến rũ nhất cũng không thể làm suy giảm lòng tận tụy trung thành của con.

Lạy Chúa, xin gìn giữ ngọn lửa nhiệt thành của con luôn bền vững và để những lúc thất vọng của con chỉ thoáng qua. Xin nhổ tận gốc khỏi lòng con khát vọng đòi công bằng còn vương màu ích kỷ, và cả sự phản kháng nhỏ nhen vẫn trỗi dậy khi con bị tổn thương. Xin đừng để sự thiếu hiểu biết của người khác làm con phiền lòng, cũng đừng để sự lãng quên của những người con từng dạy dỗ làm con buồn khổ.

Xin cho con có tấm lòng của một người mẹ, hơn cả một người mẹ; để con có thể yêu thương và chở che đứa trẻ không do con sinh thành bằng tất cả sự tha thiết của tình mẫu tử. Xin cho con thành công trong việc nắn nên một trong những học trò của mình thành một bài thơ hoàn hảo, và để lại trong tâm hồn em giai điệu sâu thẳm nhất của con, để khi môi con không còn cất tiếng hát, em vẫn có thể hát dâng lên Người.

Xin ban cho con một đức tin vững bền vào Phúc Âm của Người, để con không bao giờ từ bỏ cuộc chiến hằng ngày nhằm gìn giữ Phúc Âm luôn sống động trong thời đại của con.

Ai có thể đo lường được sức mạnh tâm linh kỳ diệu của một người thầy như thế — người mà lòng tận tụy tỉnh thức được truyền cảm hứng bởi ý thức về thiên hướng của mình?

Một người có thể tìm thấy thiên hướng nghề nghiệp của mình theo một trong ba cách: thứ nhất, tự khám phá một tài năng đặc biệt nơi chính mình; thứ hai, nhận ra một nhu cầu cấp thiết; và thứ ba, nhờ sự hướng dẫn — tuy khá hiếm — của cha mẹ hoặc thầy cô, những người có khả năng nhận ra thiên hướng của học sinh qua việc quan sát năng khiếu của họ.

Gandhi vốn chỉ là một luật sư bình thường. Chính mưu toan tước đoạt quyền lợi của người Ấn ở Nam Phi đã khiến ông hủy chuyến trở về Ấn Độ và ở lại để bảo vệ đồng bào mình. Một nhu cầu cấp thiết đã dẫn ông đến với thiên chức của đời mình.

Những ân nhân vĩ đại của nhân loại đã tìm thấy thiên chức của mình khi đối diện với một tình thế khủng hoảng đòi hỏi giải pháp tức thời. Hãy nhớ đến Oliver Cromwell, người đặt nền móng cho tự do ở Anh; Benito Juárez, người xây dựng nước Mexico mới; José de San Martín và Simón Bolívar, những người cha của nền độc lập Nam Mỹ, v.v.

Chúa Giêsu, Đức Phật, Mohammed, Hermes, Zoroaster, Khổng Tử, Phục Hy, v.v., đều là những người, vào một thời điểm nhất định trong lịch sử, đã thấu hiểu thiên chức đích thực của mình và cảm nhận được lời kêu gọi từ tiếng nói nội tâm — tiếng nói phát ra từ Bản thể.

Bằng nhiều cách khác nhau, giáo dục nền tảng được kêu gọi để khám phá những tài năng tiềm ẩn nơi học sinh. Các phương pháp sư phạm lỗi thời hiện vẫn được dùng để xác định thiên hướng nghề nghiệp của học sinh rõ ràng là ác nghiệt, vô lý và tàn nhẫn. Những bảng câu hỏi hướng nghiệp ấy được tạo ra bởi những con buôn đang tùy tiện đứng vào vị trí của người thầy.

Ở một số nước, trước khi vào các trường dự bị và trường hướng nghiệp, học sinh phải trải qua những hình thức tàn bạo tâm lý khủng khiếp nhất. Các em bị hỏi đủ thứ về toán học, giáo dục công dân, sinh học, v.v. Tàn bạo nhất trong số đó là những bài kiểm tra tâm lý nổi tiếng, những bài đo chỉ số IQ, vốn gắn chặt với sự nhanh nhạy của trí óc. Tùy theo câu trả lời và kết quả đạt được, học sinh sau đó bị đẩy vào một trong ba ban tú tài: thứ nhất là vật lý và toán học; thứ hai là sinh học; thứ ba là khoa học xã hội.

Ban vật lý và toán học đào tạo ra các kỹ sư, kiến trúc sư, nhà thiên văn học, phi công, v.v. Ban sinh học đào tạo ra các dược sĩ, y tá, nhà sinh học, bác sĩ, v.v. Ban khoa học xã hội đào tạo ra các luật sư, nhà văn, tiến sĩ triết học và văn chương, giám đốc doanh nghiệp, v.v.

Chương trình giáo dục ở mỗi quốc gia đều khác nhau, và hiển nhiên không phải nước nào cũng phân thành ba ban tú tài. Nhiều nước chỉ có một chương trình trung học thống nhất, sau khi hoàn thành, học sinh sẽ vào đại học. Ở những nước khác, người ta cũng không quan tâm đến việc khám phá thiên hướng nghề nghiệp của học sinh; các em chọn một ngành học chỉ với mong muốn có được một nghề để kiếm sống, cho dù nghề ấy hoàn toàn không phù hợp với năng khiếu bẩm sinh hay thiên hướng đích thực của mình.

Những phương pháp kiểm tra hướng nghiệp ấy đều vô dụng, vì tâm trí luôn trải qua những giai đoạn khủng hoảng. Nếu học sinh làm bài kiểm tra đúng vào một giai đoạn như thế, kết quả sẽ sai lệch và các em sẽ bị định hướng nhầm. Các nhà giáo dục đều biết rằng tâm trí học sinh có lúc lên, lúc xuống như thủy triều; có lúc tích cực, có lúc tiêu cực. Các tuyến nội tiết nam và nữ đều có nhịp sinh học, và tâm trí cũng vậy.

Vào những thời điểm nhất định, tuyến sinh dục nam ở trạng thái tích cực còn tuyến sinh dục nữ ở trạng thái tiêu cực, hoặc ngược lại. Tâm trí cũng có những trạng thái tích cực và tiêu cực như thế.

Chúng tôi khẳng định rằng chỉ một cơn khủng hoảng cảm xúc hay một trạng thái căng thẳng tâm lý khi đối diện với kỳ thi cũng có thể khiến học sinh thất bại trong bài kiểm tra hướng nghiệp. Chúng tôi cũng khẳng định rằng bất kỳ sự lạm dụng nào đối với trung tâm vận động — do chơi thể thao quá sức, đi bộ quá nhiều, lao động chân tay nặng nhọc, v.v. — đều có thể gây ra một cuộc khủng hoảng nơi trung tâm lý trí, ngay cả khi tâm trí đang ở trạng thái tích cực, và điều đó cũng có thể khiến học sinh thất bại trong bài kiểm tra hướng nghiệp.

Chúng tôi cũng khẳng định rằng bất kỳ cuộc khủng hoảng nào liên quan đến trung tâm bản năng — dù gắn với khoái cảm tình dục, trung tâm cảm xúc hay bất kỳ trung tâm nào khác — đều có thể khiến học sinh thất bại trong bài kiểm tra hướng nghiệp.

Chúng tôi cũng khẳng định rằng bất kỳ cuộc khủng hoảng nào liên quan đến đời sống tình dục — như sự dồn nén tình dục, lạm dụng tình dục, v.v. — đều có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm trí và khiến học sinh thất bại trong bài kiểm tra hướng nghiệp.

Giáo dục nền tảng dạy rằng hạt giống của thiên hướng nghề nghiệp không chỉ được gieo trong trung tâm lý trí, mà còn trong từng trung tâm còn lại của cỗ máy tâm–sinh lý con người. Vì vậy, điều cấp thiết là phải xét đến cả năm trung tâm tâm lý: trung tâm lý trí, trung tâm cảm xúc, trung tâm vận động, trung tâm bản năng và trung tâm tình dục.

Thật vô lý khi cho rằng lý trí là trung tâm nhận thức duy nhất. Nếu chỉ xét đến trung tâm lý trí để khám phá thiên hướng nghề nghiệp của một người, chúng ta không chỉ phạm một sự bất công nghiêm trọng — điều đã được chứng minh là có hại cho cả cá nhân lẫn xã hội — mà còn phạm thêm một sai lầm nữa: hạt giống của thiên hướng nghề nghiệp không chỉ nằm trong trung tâm lý trí, mà còn trong từng trung tâm còn lại của cỗ máy tâm–sinh lý con người.

Chỉ có một con đường duy nhất để khám phá thiên hướng nghề nghiệp đích thực của một học sinh: đó là tình yêu đích thực.

Nếu cha mẹ và thầy cô cùng phối hợp chặt chẽ ở gia đình và nhà trường, kiên nhẫn tìm hiểu và quan sát từng biểu hiện của học sinh, họ sẽ có thể khám phá được thiên hướng bẩm sinh của mỗi em.

Đó là con đường duy nhất để cha mẹ và thầy cô khám phá ý thức về thiên hướng nghề nghiệp của học sinh. Nhưng điều đó đòi hỏi tình yêu thương chân thành từ cả cha mẹ lẫn thầy cô. Hiển nhiên, nếu cha mẹ không có tình yêu ấy, hoặc nếu những người thầy không thực sự sống đúng với thiên hướng của mình và không sẵn sàng hy sinh vì học sinh, thì sự phối hợp như vậy khó có thể trở thành hiện thực.

Nếu các chính phủ thực sự muốn cứu xã hội, họ phải dùng ngọn roi của ý chí để “đuổi những con buôn ra khỏi đền thờ”.1 Chúng ta cần khởi xướng một kỷ nguyên văn hóa mới và truyền bá giáo lý của giáo dục nền tảng khắp nơi.

Ở một số nước, các trường phổ thông, cao đẳng và đại học đều có cố vấn hướng nghiệp. Nhưng trên thực tế, nhiều người trong số họ lại không làm đúng với thiên hướng của mình, mà đảm nhiệm một công việc không phù hợp với thiên hướng bẩm sinh. Họ không thể hướng dẫn người khác, vì ngay chính bản thân họ còn chưa tìm được phương hướng cho mình. Điều cấp thiết là phải có những cố vấn hướng nghiệp đích thực, đủ khả năng hướng dẫn học sinh một cách sáng suốt.

Chúng ta cần hiểu rằng, do tính đa nguyên của cái tôi, con người tự động đảm nhận nhiều vai trò khác nhau trên sân khấu cuộc đời. Mỗi đứa trẻ có một vai trò ở trường, một vai trò khác trên đường phố và lại một vai trò khác ở nhà. Nếu muốn khám phá thiên hướng nghề nghiệp của một người trẻ, chúng ta phải quan sát em ở trường, ở nhà và cả ngoài xã hội. Chỉ khi cha mẹ và thầy cô hợp tác chặt chẽ với nhau thì việc quan sát ấy mới có thể được thực hiện đầy đủ.

Nền sư phạm lỗi thời còn sử dụng phương pháp suy đoán nghề nghiệp dựa trên điểm số. Học sinh đạt điểm cao nhất môn giáo dục công dân được xem là có tố chất trở thành luật sư; học sinh giỏi sinh học được cho là có thiên hướng làm bác sĩ; còn học sinh giỏi toán thì được cho là có thiên hướng trở thành kỹ sư. Phương pháp định hướng nghề nghiệp ngớ ngẩn này chỉ dựa trên kinh nghiệm hời hợt, bởi tâm trí không chỉ có những chu kỳ lên xuống như chúng ta đã biết, mà còn có những trạng thái đặc biệt khác có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập.

Nhiều nhà văn khi còn đi học từng học rất kém môn ngữ pháp, nhưng về sau lại trở thành những bậc thầy thực sự về ngôn ngữ. Cũng vậy, không ít bác sĩ thời còn đi học đã từng thi trượt môn sinh học và khoa học tự nhiên.

Thật đáng tiếc, nhiều bậc cha mẹ thay vì tìm hiểu năng khiếu của con mình, lại chỉ nhìn thấy nơi con cái sự tiếp nối của cái tôi mà họ yêu quý — cái tôi tâm lý.

Nhiều người cha làm nghề luật sư muốn con mình nối nghiệp trong văn phòng luật của gia đình; nhiều chủ doanh nghiệp cũng muốn con tiếp tục theo đuổi những lợi ích ích kỷ của họ, mà không hề quan tâm đến thiên hướng nghề nghiệp của con.

Cái tôi luôn muốn vươn lên, muốn leo lên đỉnh cao, muốn gây ấn tượng. Khi không thể thực hiện được tham vọng của mình, nó tìm cách đạt được điều đó thông qua con cái. Chính những bậc cha mẹ đầy tham vọng ấy đã ép con theo những nghề nghiệp và vị trí hoàn toàn không phù hợp với thiên hướng của con.


Chú thích

  1. Giăng 2:13-16: "Gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái, Đức Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem. Ngài thấy trong sân đền thờ người thì buôn bán bò, chiên, bồ câu; kẻ lại ngồi đổi bạc. Ngài bện dây roi, đánh đuổi tất cả ra khỏi đền thờ luôn với chiên bò. Ngài vứt tung tiền và lật đổ bàn ghế của người đổi bạc. Ngài truyền lệnh cho những người bán bồ câu: “Dẹp sạch những thứ này đi! Đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán! ↩︎

Gửi phản hồi

Khám phá thêm từ Gnosis Hà Nội

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc