Loại thứ nhất, chúng ta có thể — và thật ra cần phải — gọi là tâm giác quan. Loại thứ hai được gọi là tâm trung gian. Loại thứ ba được gọi là nội tâm.
Samael Aun Weor
Khắp nơi đâu đâu cũng có những người chỉ biết suy luận bằng trí năng nhưng thiếu một định hướng tích cực cho đời sống, lại bị đầu độc bởi một thứ chủ nghĩa hoài nghi cực đoan. Kể từ thế kỷ XVIII, chất độc của chủ nghĩa hoài nghi đã lan rộng và ảnh hưởng đến tâm trí con người một cách đáng lo ngại. Trước thế kỷ ấy, người ta vẫn thường nhìn thấy hòn đảo nổi tiếng Nontrabada, hay còn gọi là Encubierta1, ngoài khơi Tây Ban Nha. Không còn nghi ngờ gì nữa, hòn đảo này nằm trong chiều không gian thứ tư2. Có rất nhiều giai thoại kể về hòn đảo bí ẩn ấy. Sau thế kỷ XVIII, hòn đảo ấy đã biến mất vào cõi vĩnh hằng; không ai còn biết gì về nó nữa.
Vào thời vua Arthur và các Hiệp sĩ Bàn Tròn, các tinh linh tự nhiên vẫn còn xuất hiện khắp nơi và lan tỏa trong bầu khí quyển vật chất của chúng ta. Ở Erin, vùng Ireland xanh tươi, vẫn còn rất nhiều câu chuyện về tinh linh, thần đèn và các nàng tiên. Thật đáng tiếc, tất cả những điều hồn nhiên ấy, toàn bộ vẻ đẹp của linh hồn thế giới ấy, ngày nay con người không còn khả năng cảm nhận được nữa, do thái độ tự cho mình là biết tuốt của những trí thức lạc hướng và sự phát triển quá mức của cái tôi mang bản chất thú tính.
Ngày nay, những người tự cho mình là biết tuốt cười nhạo tất cả những điều này; họ không chấp nhận chúng, dù chính họ vẫn chưa từng thực sự chạm đến hạnh phúc. Nếu con người hiểu rằng chúng ta có ba loại tâm, thì mọi chuyện đã khác. Có lẽ họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến những giáo lý này.
Thật đáng tiếc, những chuyên gia vô minh vẫn còn mê mải trong những ngõ ngách rắc rối của thứ học vấn họ theo đuổi, nên không còn thời gian để nghiêm túc xem xét giáo lý của chúng tôi. Những người đầy tự mãn đáng thương; họ tự phụ với thứ học thức phù phiếm và thuần lý trí của mình; họ tin rằng mình đang đi đúng đường mà không hề nhận ra rằng bản thân đang mắc kẹt trong một ngõ cụt.
Nhân danh sự thật, chúng tôi cần nói ngắn gọn rằng con người có ba loại tâm. Loại thứ nhất, chúng ta có thể — và thực ra cần phải — gọi là tâm giác quan; loại thứ hai sẽ được gọi là tâm trung gian; và loại thứ ba là nội tâm. Bây giờ, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu từng loại tâm này một cách cẩn thận.
Tâm giác quan
Không còn nghi ngờ gì nữa, tâm giác quan xây dựng các khái niệm nội dung của nó thông qua những tri giác cảm quan bên ngoài. Trong những điều kiện ấy, tâm giác quan trở nên vô cùng thô và mang nặng tính duy vật. Nó không thể chấp nhận bất cứ điều gì chưa được chứng minh về mặt vật chất.
Vì các khái niệm của tâm giác quan được hình thành dựa trên dữ liệu thu thập từ các giác quan bên ngoài, nên rõ ràng là tâm này không thể biết gì về cái có thật, về chân lý, những bí ẩn của sự sống và cái chết, linh hồn và tâm linh.
Đối với những trí thức lạc hướng, những người hoàn toàn bị cuốn vào các giác quan bên ngoài và mắc kẹt trong những khái niệm của tâm giác quan, thì các giáo lý tâm linh quả thật chỉ là điều điên rồ.
Trong cái lý của sự vô lý, trong thế giới của những điều phi lý, thì họ đúng, vì họ bị điều kiện hóa bởi thế giới cảm quan bên ngoài. Làm sao tâm giác quan có thể chấp nhận điều gì không thuộc về giác quan?
Nếu dữ liệu từ các giác quan là động lực bí mật cho mọi hoạt động của tâm giác quan, thì rõ ràng tâm này tất yếu sẽ tạo ra những khái niệm mang tính cảm quan.
Tâm trung gian
Tâm trung gian thì khác, tuy nhiên nó cũng không trực tiếp biết gì về sự thật; nó chỉ giới hạn trong niềm tin, thế thôi. Trong tâm trung gian có những niềm tin tôn giáo, những tín điều không thể lay chuyển, v.v.
Nội tâm
Nội tâm là nền tảng cho việc trải nghiệm chân lý trực tiếp. Rõ ràng là nội tâm lấy những dữ liệu do tâm thức siêu việt của Bản thể cung cấp để làm chất liệu hình thành nên các khái niệm của nó.
Không còn nghi ngờ gì nữa, tâm thức có thể trực tiếp trải nghiệm thực tại. Tâm thức thật sự biết. Tuy nhiên, để biểu hiện, tâm thức cần một trung gian, một công cụ hành động, và công cụ ấy chính là nội tâm.
Tâm thức trực tiếp biết được thực tại của mọi hiện tượng tự nhiên và có thể biểu đạt điều đó thông qua nội tâm. Mở rộng nội tâm chính là điều cần thiết để thoát khỏi thế giới của nghi ngờ và vô minh. Điều này có nghĩa rằng chỉ khi khai mở nội tâm thì đức tin đích thực mới được sinh ra trong con người.
Nhìn từ một góc độ khác, chúng tôi có thể nói rằng chủ nghĩa hoài nghi duy vật là đặc điểm của vô minh. Một chuyên gia vô minh chắc chắn 100% là một kẻ hoài nghi.
Đức tin tâm linh là nhận thức trực tiếp của trí tuệ chân thật và nền tảng, là trải nghiệm sống động về những gì vượt ra ngoài cơ thể, tình cảm, và tâm trí. Chúng ta phải phân biệt rõ giữa đức tin tâm linh và niềm tin mù quáng. Niềm tin mù quáng thuộc về tâm trung gian. Đức tin tâm linh là đặc tính của nội tâm.
Thật đáng tiếc, con người thường có xu hướng nhầm lẫn giữa đức tin tâm linh và niềm tin mù quáng. Dù nghe có vẻ nghịch lý, chúng tôi vẫn khẳng định rằng: “Ai có đức tin đích thực thì không cần phải tin.”
Đức tin đích thực là trí tuệ sống động, là nhận thức đúng đắn và là trải nghiệm trực tiếp. Qua nhiều thế kỷ, đức tin tâm linh đã bị nhầm lẫn với niềm tin mù quáng, và giờ đây thật khó để giúp con người hiểu rằng đức tin tâm linh là trí tuệ đích thực, chứ không bao giờ chỉ là niềm tin viển vông. Các chức năng trí tuệ của nội tâm bắt nguồn sâu xa từ toàn bộ những dữ liệu kỳ diệu của trí tuệ chứa đựng trong tâm thức.
Người nào đã khai mở nội tâm có thể nhớ lại những kiếp sống trước của mình và biết được các bí ẩn của sự sống và cái chết, không phải nhờ những gì họ đã đọc hay chưa đọc, không phải nhờ những gì người khác đã nói hay không nói, cũng không phải nhờ những gì họ tin hay không tin, mà nhờ trải nghiệm trực tiếp, sống động và vô cùng chân thật.
Tâm giác quan không thích những gì chúng tôi đang nói. Nó không thể chấp nhận những điều này vì chúng nằm ngoài phạm vi của nó; chúng không liên quan gì đến nhận thức giác quan bên ngoài. Đây là điều xa lạ với bản chất các khái niệm của nó, xa lạ với những gì nó đã được dạy ở trường và những gì nó đã học từ sách vở, v.v.
Tâm trung gian cũng không thể chấp nhận những gì chúng tôi nói, vì thực tế những điều này mâu thuẫn với niềm tin của nó và trái với những gì các thầy dạy tôn giáo đã bắt nó học thuộc lòng, v.v.

Kabir Giêsu vĩ đại đã cảnh báo các môn đồ của mình rằng:
“Hãy cẩn thận, coi chừng men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê”
(Ma-thi-ơ 16:11).
Rõ ràng, qua lời cảnh báo ấy, Chúa Giêsu Kitô muốn ám chỉ giáo lý duy vật của người Sa-đu-sê và sự đạo đức giả của người Pha-ri-si.3 Giáo lý của người Sa-đu-sê thuộc về tâm giác quan; đó là giáo lý của năm giác quan. Giáo lý của người Pha-ri-si thuộc về tâm trung gian; đây là điều không phải bàn cãi. Người Pha-ri-si tham dự các nghi lễ chỉ để được xem là người tốt và gây ấn tượng với người khác. Tuy nhiên, họ không bao giờ tự rèn luyện bản thân.

Chúng ta sẽ không thể khai mở nội tâm nếu không học cách suy nghĩ theo phương diện tâm lý. Rõ ràng, khi một người bắt đầu quan sát chính mình, đó là dấu hiệu cho thấy họ đã bắt đầu suy nghĩ theo phương diện tâm lý. Chừng nào một người còn chưa thừa nhận thực tại của tâm lý chính mình và khả năng có thể chuyển hóa nó từ tận gốc, thì chắc chắn họ sẽ không cảm thấy cần đến việc tự quan sát tâm lý.
Khi một người chấp nhận giáo lý về cái tôi đa nguyên và hiểu được sự cần thiết phải loại bỏ những cái tôi mà mình mang trong tâm để giải phóng tâm thức, tức Phật tính, thì chắc chắn, trên thực tế và theo đúng nghĩa, họ sẽ bắt đầu tự quan sát tâm lý.
Rõ ràng, việc loại bỏ những yếu tố không mong muốn trong tâm sẽ khiến cho nội tâm được khai mở. Tất cả điều này có nghĩa rằng: trong quá trình loại bỏ những yếu tố không mong muốn trong tâm, chúng ta sẽ dần dần khai mở được nội tâm. Người nào đã loại bỏ hoàn toàn những yếu tố không mong muốn bên trong thì rõ ràng cũng sẽ hoàn toàn khai mở được nội tâm. Người như thế sẽ có đức tin tâm linh tuyệt đối. Giờ đây, chúng ta đã hiểu được lời Chúa Kitô khi ngài nói: “Nếu có đức tin bằng hạt cải”, thì sẽ dời được núi non. 4

Bản khắc minh họa dụ ngôn — Jan Luyken, từ Kinh Thánh Bowyer.
-Samael Aun Weor, “Cuộc nổi loạn vĩ đại”
Tâm trí
Qua kinh nghiệm, chúng tôi nhận thấy rằng không thể hiểu được điều gọi là tình yêu nếu chưa thật sự hiểu trọn vẹn vấn đề phức tạp của tâm trí. Ai cho rằng tâm trí là bộ não thì hoàn toàn sai lầm. Tâm trí có bản chất năng lượng, vi tế, và có thể thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất. Trong một số trạng thái thôi miên hoặc trong giấc ngủ bình thường, tâm trí có thể tự di chuyển đến những nơi rất xa để nhìn và nghe những gì đang xảy ra ở đó.
Trong các phòng thí nghiệm siêu tâm lý5, người ta đã thực hiện nhiều thí nghiệm đáng chú ý với các đối tượng trong trạng thái thôi miên. Nhiều đối tượng trong trạng thái thôi miên đã có thể tường thuật một cách tỉ mỉ về các sự kiện, con người và tình huống đang diễn ra ở những nơi rất xa. Sau những thí nghiệm này, các nhà khoa học đã có thể kiểm chứng tính xác thực của những thông tin ấy. Họ đã xác nhận rằng các sự kiện đó là có thật và hoàn toàn chính xác. Thông qua những thí nghiệm siêu tâm lý này, người ta đã hoàn toàn chứng minh được bằng quan sát và thực nghiệm rằng não bộ không phải là tâm trí.
Quả thật, chúng ta có thể khẳng định rằng tâm trí có thể du hành xuyên không gian và thời gian mà không phụ thuộc vào bộ não, để nhìn và nghe thấy những điều đang xảy ra ở những nơi rất xa. Người ta đã hoàn toàn chứng minh được rằng nhận thức ngoại cảm là có thật, và chỉ kẻ điên hoặc kẻ ngu ngốc mới nghĩ đến việc phủ nhận điều đó. Bộ não được tạo ra để biểu đạt suy nghĩ, nhưng nó không phải là suy nghĩ. Bộ não chỉ đơn thuần là công cụ của tâm trí, nhưng không phải là tâm trí.
Chúng ta cần nghiên cứu tâm trí một cách sâu sắc nếu thật sự muốn hiểu trọn vẹn về tình yêu.
Trẻ em, thanh niên và thiếu nữ có tâm trí linh hoạt, mềm dẻo, nhanh nhạy và tỉnh táo hơn, v.v. Có rất nhiều trẻ em và thanh thiếu niên thích hỏi cha mẹ, thầy cô về điều này điều kia. Chúng muốn hiểu thêm, muốn biết nên đặt câu hỏi, quan sát và nhận ra những chi tiết mà người lớn thường xem nhẹ hoặc không nhận thức được.
Theo năm tháng, khi con người già đi, tâm trí dần trở nên cứng nhắc. Tâm trí của người già đã trở nên cố định và hóa đá; dù có bắn đại bác cũng không thể làm nó thay đổi nữa. Người già là như thế đấy, và cứ tiếp tục như vậy cho đến lúc chết; họ không thay đổi, luôn tiếp cận mọi thứ từ một quan điểm cố định.
Sự lẩm cẩm của người già, cùng những định kiến và ý tưởng cố hữu của họ, tất cả đều cứng như đá, không gì có thể làm thay đổi được. Đó là lý do người ta thường nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời.”
Những thầy cô chịu trách nhiệm giúp định hình tính cách cho học sinh cần khẩn thiết nghiên cứu tâm trí một cách sâu sắc, để có thể hướng dẫn cho thế hệ tương lai một cách sáng suốt.
Thật đau lòng khi hiểu được vì sao tâm trí dần trở nên cứng nhắc theo thời gian. Tâm trí là thủ phạm giết chết những gì chân thật và đúng đắn. Tâm trí hủy hoại tình yêu. Người bước vào tuổi già không thường còn khả năng yêu thương nữa, vì tâm trí họ đã chất đầy những trải nghiệm đau khổ, những định kiến và những ý niệm đã trở nên chai cứng, v.v.
Có những người ở tuổi xế chiều vẫn tưởng rằng mình biết yêu, nhưng thực ra nơi họ chỉ còn lại những ham muốn tình dục già nua. Họ nhầm lẫn dục vọng với tình yêu. Nhiều người ở tuổi xế chiều trải qua những cơn bùng phát mạnh mẽ của dục vọng và ham muốn rồi ngộ nhận rằng đó là tình yêu.
Tình yêu tuổi xế chiều là điều không thể, vì tâm trí đã hủy hoại nó bằng sự lẩm cẩm, những ý tưởng cố hữu, định kiến, ghen tuông, kinh nghiệm, ký ức và những đam mê tình dục.
Tâm trí là kẻ thù tồi tệ nhất của tình yêu. Ở các quốc gia siêu văn minh, tình yêu không còn tồn tại nữa, vì tâm trí con người chỉ còn vương mùi nhà máy, tài khoản ngân hàng, xăng dầu và phim ảnh.
Có rất nhiều cái chai – nhiều yếu tố giam cầm tâm trí – và tâm trí của mỗi người đều bị nhốt kín trong một cái chai nào đó. Có người nhốt tâm trí mình trong những giáo điều ghê tởm, kẻ khác lại nhốt mình trong những tư tưởng tàn nhẫn. Có những người nhốt tâm trí mình trong ghen tuông, hận thù, khát vọng làm giàu, địa vị xã hội, sự bi quan, trong việc bám chấp vào một người nào đó, bám chấp vào chính những khổ đau của mình hay những vấn đề gia đình.
Con người rất thích nhốt tâm trí mình trong chai. Hiếm ai thật sự quyết tâm đập vỡ cái chai ấy. Chúng ta cần giải phóng tâm trí, nhưng con người lại thích bị nô dịch. Trong cuộc đời này, hầu như ai cũng nhốt tâm trí mình trong một cái chai nào đó.
Thầy cô phải dạy học sinh tất cả những điều này. Họ cần dạy cho các thế hệ mới cách quan sát, khảo sát và thấu hiểu tâm trí của chính mình. Chỉ thông qua sự thấu hiểu tận gốc, chúng ta mới có thể ngăn tâm trí khỏi trở nên cứng nhắc, chai lì và bị giam hãm.
Điều duy nhất có thể chuyển hóa thế giới là tình yêu, nhưng tâm trí lại hủy hoại tình yêu. Chúng ta cần nghiên cứu tâm trí của chính mình, quan sát nó, khảo sát nó thật thấu đáo và thực sự hiểu nó. Chỉ bằng cách ấy – bằng việc trở thành chủ nhân của chính mình và làm chủ tâm trí – chúng ta mới có thể tiêu diệt thủ phạm sát hại tình yêu và đạt được hạnh phúc chân thật.
Những người sống trong huyễn tưởng về tình yêu, những người luôn lên kế hoạch cho tình yêu, những người muốn tình yêu vận hành theo những yêu và ghét của mình, theo những kế hoạch và huyễn tưởng riêng, theo chuẩn mực và định kiến, theo ký ức và kinh nghiệm, v.v., sẽ không bao giờ thật sự biết tình yêu là gì. Thực tế, họ đã trở thành kẻ thù của tình yêu. Chúng ta cần hiểu trọn vẹn cách tâm trí vận hành trong quá trình tích lũy kinh nghiệm của nó.
Thầy cô đôi khi khiển trách học sinh một cách chính đáng, nhưng cũng có lúc lại trách phạt một cách ngu ngốc và vô cớ. Họ không hiểu rằng mỗi lời khiển trách bất công đều đọng lại trong tâm trí học sinh. Hậu quả của cách hành xử sai lầm ấy thường là làm học sinh mất đi lòng quý mến dành cho thầy cô. Tâm trí hủy hoại tình yêu, và đây là điều mà thầy cô, từ bậc phổ thông đến đại học, không bao giờ được quên.
Chúng ta cần phải hiểu thật thấu đáo những quá trình trong tâm trí đã hủy hoại vẻ đẹp của tình yêu.
Làm cha mẹ thôi thì chưa đủ; cha mẹ còn cần phải biết yêu thương. Nhiều bậc cha mẹ tin rằng mình yêu con cái chỉ vì đã sinh ra chúng, vì chúng thuộc về mình, vì mình sở hữu chúng, giống như sở hữu một chiếc xe đạp, một chiếc ô tô hay một ngôi nhà. Cảm giác chiếm hữu và phụ thuộc ấy thường bị nhầm lẫn với tình yêu, nhưng nó không bao giờ có thể là tình yêu.
Thầy cô ở trường, là ngôi nhà thứ hai của chúng ta, tin rằng mình yêu thương học sinh vì chúng là học trò của mình, vì chúng thuộc về mình, nhưng đó không phải là tình yêu. Cảm giác chiếm hữu hay lệ thuộc không phải là tình yêu.
Tâm trí hủy hoại tình yêu, và chỉ khi hiểu được mọi chức năng sai lầm của tâm trí – hiểu lối suy nghĩ vô lý của mình, những thói quen xấu, những tập quán máy móc và vô thức, cách nhìn nhận sai lầm về sự việc, v.v. – thì chúng ta mới có thể trải nghiệm, thật sự trải nghiệm, điều không thuộc về thời gian, điều được gọi là tình yêu.
Những người muốn biến tình yêu thành một phần trong nếp sống máy móc của mình, muốn tình yêu phải đi theo con đường sai lầm của những định kiến, ham muốn, sợ hãi, kinh nghiệm sống, cái nhìn ích kỷ và lối suy nghĩ lệch lạc của họ, v.v., thì trên thực tế đã hủy diệt tình yêu, vì tình yêu không bao giờ có thể bị chế ngự.
Người nào muốn tình yêu vận hành theo “tôi muốn”, “tôi khao khát”, “tôi nghĩ”, thì người ấy sẽ đánh mất tình yêu, bởi thần Tình yêu Cupid không bao giờ để cho cái tôi nô dịch. Chúng ta phải chấm dứt cái tôi, cái “bản thân tôi”, để không đánh mất đứa trẻ của tình yêu. Cái tôi là tập hợp của những ký ức, ham muốn, sợ hãi, hận thù, đam mê, trải nghiệm, ích kỷ, đố kỵ, dục vọng, tham lam, v.v.
Chỉ bằng cách thấu hiểu từng khuyết điểm một – bằng cách nghiên cứu và quan sát trực tiếp, không chỉ trong vùng lý trí mà còn ở mọi tầng sâu tiềm thức của tâm trí – thì mỗi khuyết điểm mới có thể biến mất, và ta mới có thể chết đi trong từng khoảnh khắc. Chỉ theo cách ấy, chúng ta mới có thể làm tan rã được cái tôi.
Những ai muốn nhốt tình yêu trong cái chai khủng khiếp của “cái tôi” thì sẽ đánh mất nó, vì tình yêu không bao giờ có thể bị giam hãm.
Thật đáng tiếc, con người lại muốn tình yêu vận hành theo thói quen, ham muốn và khuôn mẫu của mình, v.v. Họ muốn tình yêu phục tùng cái tôi, nhưng điều đó hoàn toàn không thể, vì tình yêu không bao giờ tuân phục cái tôi.
Các cặp đôi yêu nhau – hay đúng hơn là những cặp đôi bị cuốn hút bởi ham muốn lẫn nhau – thường cho rằng tình yêu phải trung thành bước theo con đường của những ham muốn, dục vọng và sai lầm của họ, v.v. Nghĩ như vậy là hoàn toàn sai lầm.
“Hãy nói về chúng ta,” những cặp đôi đang yêu – hay đang say đắm trong dục vọng – thường nói như thế, và trên thế giới có rất nhiều cặp như vậy. Thế rồi bắt đầu những cuộc trò chuyện, những kế hoạch, khao khát và mộng tưởng. Mỗi người đều nói theo cách cảm nhận cuộc sống của riêng mình, đều đưa ra những dự định và mong muốn riêng, và ai cũng muốn tình yêu vận hành như một đoàn tàu chạy trên đường ray thép do tâm trí tạo ra. Thật lầm lạc biết bao, ôi những cặp đôi đang yêu ấy – hay đúng hơn là những cặp đôi đang đắm chìm trong đam mê! Họ xa rời thực tại biết bao! Tình yêu không tuân theo cái “tôi”, và khi vợ chồng muốn tròng dây vào cổ để khuất phục nó, thì tình yêu sẽ bỏ đi, để lại hai người trong sự oán ghét.
Tâm trí có thói quen xấu là luôn so sánh. Một người đàn ông so sánh bạn gái mình với người khác. Một người phụ nữ so sánh bạn trai mình với người khác. Một giáo viên so sánh học sinh này với học sinh khác, như thể mọi học sinh không xứng đáng được trân trọng như nhau. Thật vậy, mọi sự so sánh đều đáng khinh.
Người nào chiêm ngưỡng một cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp mà lại đem nó so sánh với một cảnh khác, thì thật ra họ không hiểu được vẻ đẹp đang hiện hữu ngay trước mắt mình.
Người nào chiêm ngưỡng một ngọn núi đẹp mà lại so sánh nó với ngọn núi khác đã thấy hôm qua, thì họ đang không thật sự trân trọng vẻ đẹp hiện hữu trước mắt mình.
Nơi nào có sự so sánh, nơi đó không có tình yêu đích thực. Bậc cha mẹ nào thật sự yêu con mình sẽ không bao giờ đem chúng ra so sánh với bất kỳ ai. Họ đơn giản chỉ yêu thương con mình, thế thôi. Người chồng thật sự yêu vợ mình sẽ không bao giờ phạm sai lầm khi đem cô ấy ra so sánh với người khác. Anh ấy yêu vợ mình, và thế thôi. Người thầy cô thật sự yêu học sinh của mình sẽ không bao giờ phân biệt đối xử hay đem học sinh này so sánh với học sinh khác. Họ thật sự yêu thương học sinh của mình, và thế thôi.
Một tâm trí bị chia cắt bởi sự so sánh, một tâm trí bị nô dịch bởi tính nhị nguyên, sẽ hủy hoại tình yêu. Một tâm trí bị chia rẽ bởi cuộc xung đột giữa những khái niệm đối nghịch sẽ không có khả năng hiểu được điều mới mẻ; nó sẽ dần hóa đá và trở nên chai cứng. Tâm trí có nhiều tầng lớp, nhiều vùng, nhiều miền tiềm thức và những ngóc ngách sâu kín, nhưng phần tuyệt vời nhất chính là Phật tính, là tâm thức, và nó nằm ở trung tâm.
Khi tính nhị nguyên không còn tồn tại, khi tâm trí trở nên toàn vẹn, tĩnh lặng, an bình và sâu sắc, khi nó không còn so sánh nữa, thì Phật tính – tức tâm thức – sẽ thức tỉnh. Và đó phải là mục tiêu chân chính của nền giáo dục.
Chúng ta hãy phân biệt giữa khách quan và chủ quan. Trong cái khách quan có tâm thức thức tỉnh. Trong cái chủ quan là tâm thức ngủ mê, là tiềm thức. Chỉ có tâm thức khách quan mới có thể đạt được tri thức khách quan. Tri thức thuần lý trí mà học sinh ngày nay tiếp nhận trong các trường học, từ phổ thông đến đại học, hoàn toàn mang tính chủ quan.
Không thể đạt được tri thức khách quan nếu không có tâm thức khách quan. Trước hết, học sinh phải đạt được trình độ tự ý thức, rồi sau đó mới đến tâm thức khách quan. Chỉ có con đường của tình yêu mới giúp chúng ta đạt được tâm thức khách quan và tri thức khách quan.
Chúng ta cần phải hiểu được vấn đề phức tạp của tâm trí nếu thật sự muốn bước đi trên con đường của tình yêu.
-Samael Aun Weor, “Giáo dục nền tảng”.
Chú thích
- Tiếng Tây Ban Nha nghĩa là “không khóa”, hay “được hé lộ” ↩︎
- Chiều không gian thứ tư: theo cách hiểu của Helena Blavatsky và Henri Poincaré, đây là chiều không gian vượt ngoài ba chiều vật lý thông thường, nơi vật chất có thể thoát khỏi những giới hạn quen thuộc của không gian ba chiều. Trong các giáo lý của Samael Aun Weor, khái niệm này gắn liền với trạng thái Jinn — một thuật ngữ Ả Rập có nghĩa là “ẩn hình” — dùng để chỉ trạng thái mà vật thể chuyển vào chiều không gian thứ tư. Trong trạng thái ấy, vật thể có thể trở nên nhẹ hoặc nặng tùy ý, biến đổi hình dạng, xuyên qua vật chất, đi trên mặt nước hay lơ lửng trong không trung, vì nó vận hành theo các định luật của những cõi không gian khác. Xem thêm: https://gnosisvn.org/2017/01/20/trang-thai-jinn/ ↩︎
- Sa-đu-sê (Sadducees): một nhóm tôn giáo và chính trị có ảnh hưởng trong Do Thái giáo thời Chúa Giê-su. Trong các sách Phúc Âm, họ thường được mô tả là thiên về chủ nghĩa duy vật và chỉ chấp nhận những gì liên quan đến luật pháp hình thức; họ phủ nhận sự phục sinh, thiên thần và các thực tại tâm linh vượt ngoài giác quan. Xem thêm: https://en.wikipedia.org/wiki/Sadducees
Pha-ri-si (Pharisees): trong các sách Phúc Âm, hình ảnh này thường tượng trưng cho thái độ tự cho mình công chính, quá chú trọng hình thức đạo đức và nghi lễ bên ngoài nhưng thiếu sự chuyển hóa nội tâm chân thật. Xem thêm: https://gnosisvn.org/2021/08/14/nguoi-pha-ri-si-va-nguoi-thu-thue/ ↩︎ - Câu này đề cập đến đoạn Ma-thi-ơ 17:18-20 trong Kinh Thánh:
Ðức Chúa Giêsu quát đuổi ác quỷ, ác quỷ xuất ra khỏi đứa trẻ, và đứa trẻ được lành ngay giờ đó.
Bấy giờ các môn đồ đến gặp riêng Ðức Chúa Giêsu và hỏi, “Tại sao chúng con không thể đuổi quỷ ấy ra được?”
Ngài trả lời họ, “Vì các ngươi yếu đức tin. Quả thật, Ta nói với các ngươi: Nếu các ngươi có đức tin bằng hạt cải, các ngươi có thể bảo núi nầy, ‘Hãy dời từ đây qua đó,’ thì nó sẽ dời qua, và không việc chi các ngươi chẳng làm được…” ↩︎ - Siêu tâm lý học (tiếng Anh: parapsychology), còn gọi là cận tâm lý học hay tâm linh học, là lĩnh vực chuyên nghiên cứu các hiện tượng siêu linh và tâm linh như thần giao cách cảm, linh cảm, nhãn thông, trải nghiệm cận tử, sự đầu thai, v.v. ↩︎


Gửi phản hồi