Kundalini là năng lượng sống huyền nhiệm của thế giới, một phương diện của Brahma. Trong con người, phương diện tâm lý của năng lượng này được biểu hiện qua giải phẫu huyền học như một lực cuộn ba vòng rưỡi trong một trung tâm từ tính đặc biệt ở vùng xương cụt.
— Samael Aun Weor
Giới thiệu
Đến đây, chúng ta chạm vào một vấn đề rất nhạy cảm: Kundalini 1, con rắn lửa của sức mạnh thần thông trong con người, được nhắc đến trong nhiều trước tác của minh triết phương Đông. Không còn nghi ngờ gì nữa, Kundalini là một chủ đề đã được bàn đến rất nhiều và rất đáng để nghiên cứu.
Trong các văn bản luyện kim thời Trung cổ, Kundalini là dấu ấn tinh tú của tinh thiêng liêng, là Stella Maris, Đức Trinh Nữ của Biển, đấng dẫn đường bằng ánh sáng minh triết cho những người thực hiện Công Trình Vĩ Đại. Đối với người Aztec, Người là Tonantzin; đối với người Hy Lạp, là Diana Trinh Khiết; còn ở Ai Cập, là Isis, Đức Mẹ thiêng liêng mà chưa từng một phàm nhân nào vén được bức màn che của Người. Có thể nói rằng Kitô giáo huyền học chưa bao giờ ngừng tôn thờ Đức Mẹ Kundalini; Người chính là Marah, hay nói đúng hơn là Ram-Io, Maria.
Điều mà các tôn giáo chính thống không nói rõ, ít nhất trong phạm vi ngoại truyền hay giáo lý công khai, là khía cạnh của Mẹ Isis nơi cá nhân mỗi con người. Hiển nhiên, chỉ trong giáo lý bí truyền, các điểm đạo đồ mới được dạy rằng Đức Mẹ ấy ngự trong mỗi con người.
Cần nhấn mạnh rằng Đức Mẹ, Rea, Cybele, Adonia — hay bất kỳ tên gọi nào khác — đều là một phương diện của chính Bản thể cá nhân của chúng ta, ngay tại đây và ngay lúc này. Nói một cách cụ thể, mỗi người chúng ta đều có một Đức Mẹ Thiêng Liêng của riêng mình. Trên thiên giới có bao nhiêu Đức Mẹ Thiêng Liêng thì dưới mặt đất cũng có bấy nhiêu sinh linh.
Kundalini là năng lượng sống huyền nhiệm của thế giới, một phương diện của Brahma. Trong giải phẫu học huyền bí của con người, Kundalini được biểu hiện về mặt tâm lý như một lực cuộn ba vòng rưỡi trong một trung tâm từ tính đặc biệt ở vùng xương cụt. Ở đó, Nàng Công Chúa Thiêng Liêng nằm ngủ yên, cuộn mình như một con rắn.
Ở trung tâm của luân xa ấy có một yoni, tức tam giác tính nữ, và bên trong nó là một lingam tính nam. Lingam nguyên tử huyền diệu là biểu tượng của quyền năng sáng tạo tính dục của Brahma. Quanh lingam ấy, con rắn Kundalini cao cả nằm yên cuộn mình.
Nữ hoàng lửa, dưới hình tượng con rắn, thức tỉnh nhờ secretum secretorum — bí mật của mọi bí mật — trong một kỹ pháp luyện kim đan mà tôi đã trình bày rõ ràng trong tác phẩm Bí Mật Bông Hoa Vàng. Không còn nghi ngờ gì nữa, khi lực thiêng liêng này thức tỉnh, nó sẽ dâng lên dọc theo ống tủy sống một cách vẻ vang, đánh thức trong chúng ta những quyền năng thần thánh.
Trong khía cạnh siêu việt, thần thánh và tiềm ẩn của mình, con rắn thiêng vượt lên trên mọi yếu tố thuần túy sinh lý và giải phẫu. Trong phương diện biểu hiện nơi con người, như tôi đã nói, nó chính là một biểu hiện của Bản Thể chúng ta.
Mục đích của tôi trong chuyên luận này không phải là giảng giải những kỹ thuật giúp thức tỉnh con rắn thiêng. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh phần nào thực tại trần trụi của cái tôi và sự cấp thiết của công việc nội tâm nhằm làm tan rã những yếu tố phi nhân tính cấu thành nó.
Bản thân tâm trí không thể chuyển hóa triệt để bất kỳ khuyết điểm tâm lý nào. Tâm trí có thể gán nhãn cho bất kỳ khuyết điểm nào, chuyển nó từ hình thức này sang hình thức khác, che giấu nó với chính mình hoặc với người khác, biện minh cho nó, v.v., nhưng không bao giờ có thể loại bỏ nó tận gốc.
Thấu hiểu là một phần căn bản, nhưng đó không phải là tất cả; cần phải loại bỏ khuyết điểm ấy. Trước khi loại bỏ, khuyết điểm đã được quan sát cần phải được phân tích và thấu hiểu một cách toàn diện.
Chúng ta cần một quyền năng cao hơn tâm trí, một quyền năng có khả năng làm tan rã đến tận gốc bất kỳ khuyết điểm nào mà trước đó chúng ta đã phát hiện, phân tích và thấu hiểu sâu sắc. May mắn thay, quyền năng ấy tiềm tàng nơi những chiều sâu vượt ngoài thân thể, cảm xúc và tâm trí, mặc dù nó biểu hiện một cách cụ thể tại trung tâm xương cụt, như tôi đã giải thích trong những phần trước của chương này.
Sau khi đã thấu hiểu trọn vẹn một cái tôi-khuyết điểm, chúng ta phải đi sâu vào thiền và tha thiết cầu nguyện, khẩn xin Đức Mẹ của riêng mình làm tan rã cái tôi ấy. Đây chính là phương pháp đúng đắn để loại bỏ những yếu tố không mong muốn bên trong chúng ta.
Đức Mẹ Kundalini có quyền năng thiêu thành tro bụi bất kỳ yếu tố tâm lý chủ quan và phi nhân tính nào. Thiếu giáo huấn và phương pháp này, mọi nỗ lực nhằm làm tan rã cái tôi đều không thể thành công; tất cả đều trở nên vô ích và phi lý.
— Samael Aun Weor, Cuộc cách mạng nội tâm vĩ đại
Bảy thánh đường
Tài liệu bổ sung
Con người là một bộ ba gồm thân thể, hồn và tâm linh. Giữa tâm linh và thân thể có một trung gian kết nối, đó là hồn. Học trò Gnosis biết rằng hồn khoác lên mình một bộ trang phục kỳ diệu, chính là cơ thể cảm xúc. Qua những gì học được từ Gnosis, chúng ta biết rằng cơ thể cảm xúc là bản sao của cơ thể vật chất, được phú cho các giác quan nội tại nhiệm màu.
Các bậc thấu thị vĩ đại có nói về bảy luân xa, và Leadbeater2 đã miêu tả chúng rất chi tiết. Những luân xa này thực ra là các giác quan của cơ thể cảm xúc, là các trung tâm khí lực có liên hệ mật thiết với các tuyến nội tiết.

Trong lò luyện kim đan của cơ thể con người, có bảy thành phần được kiểm soát bởi ba hệ thần kinh khác nhau. Các dây thần kinh hoạt động như những tác nhân của định luật tam giác, điều khiển bảy tuyến chính của cơ thể. Ba hệ thần kinh này tương tác với nhau, bao gồm:
– Thứ nhất, hệ thần kinh não-tủy, chịu trách nhiệm cho các chức năng có ý thức.
– Thứ hai, hệ thần kinh đại giao cảm3, điều khiển các chức năng thuộc tiềm thức, vô thức và bản năng.
– Thứ ba, hệ thần kinh phó giao cảm hoặc hệ thần kinh phế vị, giữ vai trò kiềm chế các chức năng bản năng dưới sự điều khiển của tâm trí.
Hệ thần kinh trung ương là ngai vàng của tâm linh. Hệ thần kinh đại giao cảm là phương tiện của cơ thể cảm xúc. Hệ thần kinh phế vị, hay phó giao cảm, tuân theo mệnh lệnh của tâm trí. Ba tia sáng và bảy trung tâm khí lực là nền tảng của mọi trật tự4 trong vũ trụ, từ cái lớn vô tận đến cái nhỏ vô cùng. “Trên sao thì dưới cũng vậy.”5
Bảy tuyến chính yếu trong cơ thể con người là bảy phòng thí nghiệm chịu sự kiểm soát của định luật tam giác. Mỗi tuyến này được kết nối với một luân xa trong cơ thể. Mỗi luân xa lại có mối quan hệ tương quan mật thiết với bảy thánh đường nằm dọc cột sống. Bảy thánh đường6 này kiểm soát bảy luân xa của hệ thần kinh đại giao cảm.7

Bảy thánh đường bắt đầu hoạt động mạnh mẽ khi Kundalini đi lên theo ống tủy sống. Kundalini ngự trong các electron. Nhà hiền triết nhập định và tập trung vào Kundalini, người học đạo tôn kính Kundalini, và trong những mái ấm nơi Hôn nhân Hoàn hảo ngự trị, các cặp đôi học cách vận dụng Kundalini trong đời sống hằng ngày.
Kundalini là ngọn lửa dương tính tiềm ẩn trong các nguyên tử tinh, là chất điện hỏa của Mặt Trời. Khi được giải phóng, Kundalini sẽ biến chúng ta thành những vị thần thiêng liêng.
Ngọn lửa của trái tim kiểm soát quá trình đi lên của Kundalini trong ống tủy sống. Kundalini phát triển, tiến hóa và đi lên tương ứng với phẩm hạnh của trái tim. Kundalini là năng lượng nguyên thủy ẩn chứa trong thánh đường Ê-phê-sô8. Thánh đường này nằm ở cao độ khoảng hai ngón tay ở phía trên hậu môn và hai ngón tay ở phía trước bộ phận sinh dục.9
Con rắn lửa thiêng cuộn tròn ba vòng rưỡi, ngủ yên trong thánh đường của nó. Khi các nguyên tử dương và âm gặp nhau tại Triveni10, gần xương cụt, rắn lửa Kundalini của phép thần thông trong chúng ta11 sẽ thức tỉnh. Khi con rắn trỗi lên trong ống tủy sống, nó lần lượt kích hoạt từng thánh đường.





Luân xa của tuyến sinh dục được cai quản bởi sao Thiên Vương, còn luân xa của tuyến tùng, nằm ở phần trên của não, do sao Hải Vương điều khiển. Giữa hai tuyến này có một mối tương quan mật thiết, và Kundalini phải kết nối chúng với ngọn lửa thiêng để đạt được sự khai ngộ sâu sắc. Thánh đường Ê-phê-sô là một đóa sen bốn cánh lộng lẫy, tỏa sáng như hàng triệu mặt trời rực rỡ. Sức mạnh của thánh đường này giúp chúng ta chinh phục nguyên tố đất12 của các bậc hiền triết.
Khi Kundalini đi lên đến vùng tuyến tiền liệt13, nó sẽ kích hoạt sáu cánh hoa của thánh đường Si-miệc-nơ14. Thánh đường này ban cho ta sức mạnh chinh phục nguyên tố nước của sự sống và niềm vui của sáng tạo.
Khi con rắn thiêng lên đến vùng rốn, chúng ta có thể chế ngự núi lửa, vì nguyên tố lửa của các bậc hiền triết tương ứng với thánh đường Pẹt-găm nằm ở đám rối dương. Trung tâm này điều khiển lá lách, gan, tuyến tụy, v.v. Trung tâm Pẹt-găm có mười cánh hoa.



Khi Kundalini lên đến khu vực trái tim, nó kích hoạt thánh đường Thi-a-ti-rơ với mười hai cánh hoa kỳ diệu. Thánh đường này ban cho chúng ta sức mạnh chi phối nguyên tố khí của các bậc hiền triết. Khi trung tâm trái tim phát triển, chúng ta sẽ được ban cho cảm hứng, linh cảm, trực giác và khả năng chủ động xuất hồn trong cơ thể cảm xúc, cũng như khả năng đưa cơ thể vào trạng thái Jinn.15
Chương hai của Sách Khải Huyền nói về bốn Thánh đường cấp thấp trong cơ thể chúng ta. Đây là bốn trung tâm bao gồm:
– trung tâm nền tảng hay cơ bản [luân xa gốc],
– trung tâm tuyến tiền liệt hay tử cung [luân xa thứ hai, Svādhishthāna],
– trung tâm rốn [luân xa đám rối dương] và
– trung tâm trái tim [luân xa tim].
Tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu về ba trung tâm khí lực cao hơn được nhắc đến trong chương ba của sách Khải Huyền. Ba Thánh đường cấp cao này là: Thánh đường Sạt-đe, Phi-la-đen-phi-a và cuối cùng là Lao-đi-xê.
Khi Kundalini đi lên đến vùng thanh quản sáng tạo, nó ban cho chúng ta siêu năng lực nghe được tiếng nói của các sinh linh sống trong các cõi siêu việt. Luân xa này gắn liền với ākāśa16 thuần khiết, là chất nền cho sự biểu hiện của âm thanh. Luân xa thanh quản là thánh đường Sạt-đe. Khi Kundalini khai mở thánh đường này, nó sẽ nở rộ trên đôi môi màu mỡ của chúng ta và trở thành Thần Ngôn. Luân xa thanh quản có mười sáu cánh hoa tuyệt đẹp.

Khi trung tâm ākāśa này phát triển toàn vẹn, chúng ta sẽ có khả năng duy trì sự sống của cơ thể ngay cả trong những đêm dài thăm thẳm của Pralaya17 vĩ đại. Đại Thần Ngôn18 vĩ đại không thể nào hiện thể khi con rắn thiêng chưa được thức tỉnh. Nói cụ thể hơn, ākāśa chính là tác nhân của Thần Ngôn, giống như dây điện là tác nhân để dẫn dòng điện. Thần Ngôn cần có ākāśa để biểu hiện.
Ākāśa là tác nhân của âm thanh. Kundalini chính là ākāśa. Ākāśa gắn liền với tình dục. Kundalini cũng gắn liền với tình dục. Trung tâm khí lực nơi Kundalini thường trú hoàn toàn gắn liền với tính dục, như có thể thấy qua vị trí của nó: trung tâm này nằm khoảng hai ngón tay phía trên hậu môn và khoảng hai ngón tay phía dưới bộ phận sinh dục, và khu vực đó rộng khoảng bốn ngón tay19.
Kundalini chỉ có thể được đánh thức và phát triển một cách trọn vẹn thông qua phép tình dục.20 Người có tính dục hạ cấp không thích điều này. Họ tự cho mình là siêu việt và vô cùng căm ghét phép tình dục.
Một lần nọ, sau khi nghe chúng tôi giảng về phép tình dục, một người đã phản đối, nói rằng giáo viên Gnosis làm bại hoại người phụ nữ. Đó là một người có tính dục hạ cấp. Ông ta phản đối vì chúng tôi giảng dạy khoa học tái tạo bản thân, nhưng lại không phản đối tính dục song tính21, nạn mại dâm hay thói thủ dâm, và cũng không cho rằng những người như thế là bại hoại. Ông ta phản đối giáo lý của sự tái tạo, nhưng không hề phản đối giáo lý của sự thoái hóa. Người có tính dục hạ cấp là như thế. Họ tự cho mình siêu việt hơn những người có tính dục bình thường. Họ phản đối sự tái tạo, nhưng lại biện hộ cho sự thoái hóa.
Người có tính dục hạ cấp không bao giờ có thể hiện thân Thần Ngôn. Vì khạc nhổ vào thánh đường của tình dục, họ bị luật vũ trụ trừng phạt bằng cách đày xuống địa ngục đời đời22. Tình dục là thánh đường của Đức Thánh Linh.
Khi Kundalini lên đến điểm nằm giữa hai chân mày thì thánh đường Phi-la-đen-phi-a được khai mở. Đây là con mắt của trí tuệ. Trung tâm khí lực này là nơi Đức Cha Bí Ẩn ngự trị. Luân xa con mắt thứ ba này có hai cánh hoa chính cùng vô số tia sáng rực rỡ. Trung tâm này là ngai vàng của tâm trí. Không một bậc nhãn thông chân chính nào lại tự nhận mình có nhãn thông. Không một bậc nhãn thông chân chính nào nói rằng: “Tôi đã nhìn thấy…”. Bậc nhãn thông đã trải qua con đường điểm đạo sẽ nói rằng: “Chúng tôi đã học được rằng…”

Tất cả các nhà nhãn thông đều cần trải qua điểm đạo23. Người nào có nhãn thông mà chưa trải qua điểm đạo thì dễ mắc những sai lầm rất nghiêm trọng. Nhà nhãn thông nào đi khắp nơi kể lại những điều mình thấy cho cả thế giới nghe thì có nguy cơ đánh mất khả năng ấy. Một nhà nhãn thông ba hoa cũng có thể bị mất cân bằng tâm trí. Bậc nhãn thông phải biết im lặng, khiêm tốn và giản dị. Bậc nhãn thông phải giống như một đứa trẻ.
Khi Kundalini lên đến tuyến tùng, thánh đường Lao-đi-xê được khai mở. Bông sen của thánh đường này có một nghìn cánh hoa rực rỡ. Tuyến tùng chịu ảnh hưởng của sao Hải Vương. Khi thánh đường này khai mở, chúng ta sẽ có năng lực đa nhãn thông24, trực giác, v.v.

Tuyến tùng có mối liên hệ mật thiết với luân xa của tuyến sinh dục. Năng lượng sinh dục càng cao thì tuyến tùng càng phát triển mạnh mẽ. Năng lượng sinh dục càng thấp thì tuyến tùng càng kém phát triển. Sao Thiên Vương ở cơ quan sinh dục và sao Hải Vương ở tuyến tùng kết hợp với nhau để đưa chúng ta đến sự khai ngộ toàn vẹn.
Các trường phái tái tạo bản thân, vốn bị người tính dục hạ cấp vô cùng căm ghét, truyền dạy cách thực hành khoa học của sao Thiên Vương và sao Hải Vương trong đời sống thực tiễn.
Con đường “Đạo”25 có ba nhánh26. Ba nhánh này hợp nhất lại với nhau thành con đường thứ tư. Những tác giả khác đã nói rất nhiều về bốn con đường rồi. Trong Gnosis, chúng ta đi trên con đường thứ tư trong trạng thái hoàn toàn tỉnh thức. Khi quan hệ tình dục, chúng ta chuyển hóa các bản năng thú tính của cơ thể vật chất thành ý chí, chuyển hóa dục vọng của cơ thể cảm xúc thành tình yêu, và chuyển hóa những bốc đồng của tâm trí thành sự thấu hiểu. Chúng ta, là tâm linh, đang thực hiện Công Trình Vĩ Đại. Đây là cách chúng ta thực hành cả bốn con đường. Chúng ta không cần trở thành fakir để đi theo con đường thứ nhất, cũng không cần thành tu sĩ để đi theo con đường thứ hai, hay trở thành học giả để đi theo con đường thứ ba. Hôn Nhân Hoàn Hảo cho phép chúng ta bước trên cả bốn con đường này trong khi quan hệ tình dục.

Từ câu thứ nhất đến câu thứ bảy [của chương 2], sách Khải Huyền nói về trung tâm xương cụt27. Thánh đường Ê-phê-sô nằm ở trung tâm này. Tại trung tâm sáng tạo này, con rắn lửa cuộn tròn thành ba vòng rưỡi. Ai đánh thức được con rắn và làm cho nó đi lên trong ống tủy sống sẽ nhận được thanh gươm rực lửa và sau đó tiến vào Ê-đen28.


Trong con rắn ẩn chứa tiềm năng cứu rỗi của con người, nhưng chúng ta phải cảnh giác với sự xảo quyệt của nó. Chúng ta nên chiêm ngưỡng trái cấm và hít hương thơm của nó, nhưng hãy nhớ lời dặn của Đức Giê-hô-va: “Nếu ăn trái cây đó, thì chắc chắn con sẽ chết”29. Chúng ta phải tận hưởng phúc lạc của tình yêu và nâng niu người phụ nữ30. Một bức tranh đẹp làm chúng ta say mê, một bản nhạc hay khiến ta ngây ngất, nhưng một người phụ nữ xinh đẹp đáng yêu lại khơi dậy trong ta khao khát muốn chiếm hữu. Người phụ nữ là hiện thân của Đức Mẹ Thiêng Liêng. Quan hệ tình dục với người mình yêu là một niềm vui sướng không thể phủ nhận. Hưởng thụ tình dục là quyền chính đáng của con người. Hãy tận hưởng phúc lạc của tình yêu, nhưng đừng làm đổ tinh dịch, đừng phạm thánh, đừng trở thành kẻ tà dâm. Khiết tịnh biến chúng ta thành thánh thần, còn tà dâm biến chúng ta thành ác quỷ.
Thầy Krumm-Heller từng nói: “Giáo phái Sethian tôn thờ ánh sáng vĩ đại. Họ nói rằng tia sáng từ Mặt Trời hình thành một cái tổ bên trong chúng ta và tạo thành con rắn. Giáo phái Naassenes31 nói rằng: ‘Tất cả chúng ta sẽ trở thành thần nếu rời khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ.’”32
Trong cuốn La Iglesia Gnóstica [Nhà Thờ Gnosis], thầy Krumm-Heller kể rằng giáo phái Gnosis này có một thánh vật là chiếc chén rượu lễ, trong đó chứa “tinh dịch của Bên-gia-min.” Theo thầy Huiracocha33, “tinh dịch” đó thực ra là hỗn hợp rượu vang và nước. Bậc thầy vĩ đại Krumm Heller nói thêm rằng trên bàn thờ của giáo phái Naassene luôn có biểu tượng thiêng liêng của con rắn tình dục.
Thật vậy, “thần lực hay sức mạnh đồng hành cùng Môi-se chính là con rắn trên cây gậy, và sau đó [những người ghi chép Kinh Thánh Cựu Ước] đã biến con rắn trở thành chính cây gậy34. Chính con rắn ấy đã nói với các con rắn khác và đã cám dỗ Ê-va.”


Trong một đoạn khác của tác phẩm bất hủ La Iglesia Gnóstica, thầy Huiracocha viết:
“Trên sa mạc, Môi-se đã chỉ cho dân chúng thấy con rắn trên cây gậy và nói ai biết dùng con rắn này thì sẽ không bị tổn hại trong cuộc hành trình.”
Mọi sức mạnh kỳ diệu của Môi-se đều nằm trong con rắn thiêng Kundalini. Môi-se đã luyện tập phép tình dục rất nhiều để nâng con rắn lên cây gậy. Môi-se đã có vợ.
Trong màn đêm kinh hoàng của các thế kỷ đã qua, các Đại tư giáo cao quý và nghiêm khắc của những giáo phái huyền học vĩ đại đã hết lòng bảo vệ Bí Pháp Vĩ Đại. Các linh mục vĩ đại đã thề giữ im lặng, và chìa khóa của chiếc hòm thánh khoa học được giấu kín khỏi mắt người thường. Chỉ có các linh mục vĩ đại mới biết và thực hành phép tình dục. Minh triết của rắn là nền tảng của các giáo phái huyền học vĩ đại. Trí tuệ này được phát triển trong các trường phái bí ẩn ở Ai Cập, Hy Lạp, Rôma, Ấn Độ, Ba Tư, Troy, nền văn minh Aztec của Mexico và Inca của Peru, v.v.
Thầy Krumm Heller nói rằng trong “Bài Ca Dâng Deméter” của Homer, được phát hiện tại một thư viện ở Nga, người ta có thể thấy rằng toàn bộ nội dung đều xoay quanh một sự kiện sinh lý vĩ đại và vô cùng trọng đại. Trong bài ca cổ xưa của con người thần thánh, kể về thành Troy thuở xưa và cơn thịnh nộ của Achilles, có thể nhận ra rõ ràng rằng phép tình dục chính là viên đá góc của ngôi đền Eleusis vĩ đại.
Các vũ điệu khỏa thân, âm nhạc ngọt ngào của đền thờ, những nụ hôn say đắm và phép màu huyền bí của phép giao hợp bí mật… tất cả đã biến Eleusis thành một thiên đường của các nam thần và nữ thần khả kính. Thời ấy, không ai nghĩ đến sự khiếm nhã; họ chỉ nghĩ về những điều thiêng liêng và cao cả. Không ai dám làm ô uế đền thờ. Các cặp đôi đều biết rút ra kịp thời để tránh làm đổ rượu thiêng.
Ở Ai Cập, Osiris là căn nguyên tính nam, xuất hiện trước mặt Isis là căn nguyên tính nữ vĩnh cửu đáng kính. Tại vùng đất đầy nắng xứ Khem35 này, Đức Chúa toàn thiện36 đã rèn luyện với Đại Bí Pháp A.Z.F., chính xác trong giai đoạn chuẩn bị cho điểm đạo, trước khi bắt đầu đi dạy. Câu chuyện này đã được ghi lại trong kho ký ức của tự nhiên.
Ở Phoenicia, Hercules và Dagon yêu nhau tha thiết; ở Attica, Pluto và Persephone cũng vậy. Tuy nhiên, như bác sĩ Krumm-Heller nói, ngay trong các truyền thống ấy, sinh thực khí nam và tử cung đã được nhắc đến một cách công khai; đó chính là Lingam–Yoni trong các giáo phái bí ẩn của Hy Lạp.



Đại tư tế của Ai Cập là những người thừa kế trí tuệ cổ xưa từ Atlantis. Họ đại diện cho Thoth, vị thần cò quăm vĩ đại với dương vật cương cứng. Thầy Krumm-Heller kể rằng phía trên dương vật cương cứng của thần cò Thoth có khắc một dòng chữ: “Đấng Ban Trí Tuệ”, bên cạnh đó là một đóa sen tỏa sáng rực rỡ.
Các bậc hiền triết xưa của Ai Cập thiêng liêng đã khắc biểu tượng thần thánh của con rắn tình dục trên những bức tường cổ xưa của họ.
[Thời xưa] không ai được phép tiết lộ bí mật của phép tình dục, tức Đại Bí Pháp. Kẻ nào không may tiết lộ bí mật ấy đều bị kết án tử hình. Họ bị đưa đến một sân đá, đứng trước một bức tường cổ phủ da cá sấu và khắc đầy những chữ tượng hình bí ẩn. Tại đó, họ bị chặt đầu, moi tim, rồi tro cốt bị nguyền rủa của họ bị ném ra bốn phương.
Chuyện này khiến tôi chợt nhớ đến Cazote37, nhà thơ vĩ đại người Pháp đã chết trên máy chém trong cuộc Cách mạng Pháp. Trong một bữa tiệc nổi tiếng, ông đã tiên tri về cái chết của chính mình cùng vận mệnh đen tối đang chờ đợi một nhóm điểm đạo đồ quý tộc, những người dự định tiết lộ Đại Bí Pháp. Ông tiên đoán rằng một số người sẽ chết trên máy chém, một số khác sẽ chết bởi dao găm, thuốc độc, ngục tù và lưu đày. Những lời tiên tri của ông đã ứng nghiệm chính xác tuyệt đối.
Vào thời Trung Cổ, bất cứ ai tiết lộ Đại Bí Pháp đều chết một cách khó hiểu: họ chết bởi những món quà chết chóc như chiếc áo của Nessus38, những bánh xà phòng tẩm độc được gửi đến nhà như quà sinh nhật, những bó hoa tẩm hương, hoặc bằng dao găm.

Đại Bí Pháp là chìa khóa mở ra mọi siêu năng lực và mọi cõi giới. Sức mạnh của tự nhiên sẽ trỗi dậy chống lại những kẻ táo tợn tìm cách khuất phục nó. Các đại tu sĩ heirophant đã giấu kín bí mật của mình, và các vị vua thiêng liêng không bao giờ trao chìa khóa quyền năng bí mật cho bất kỳ người trần tục nào. Thật khốn khổ và bất hạnh cho người trần nào nhận được bí mật này mà không biết cách tận dụng nó.
— Samael Aun Weor, Hôn nhân hoàn hảo, chương 7
Thực hành
Hãy thiền và xướng âm của từng thánh đường của bảy thánh đường được nhắc đến trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan, theo đúng lời chỉ dẫn của thầy Samael Aun Weor:
“Bảy luân xa (thánh đường) rung động với thần chú Ai Cập đầy uy lực
FE… UIN… DAGJ
Từ cuối cùng được phát âm bằng cổ họng.”
• Lao-đi-xê (Sahasrara): III…
• Phi-la-đen-phi-a (Ajna): III…
• Sạt-đe (Vishuddha): EEE…
• Thi-a-ti-rơ (Anahata): OOO…
• Pẹt-găm (Manipura): UUU…
• Si-miệc-nơ (Svadhisthana): MMM…
• Ê-phê-sô (Muladhara): SSS…

- Từ Kundalini bắt nguồn từ hai gốc: Kunda, chỉ Cơ quan Kundartiguador, và Lini, một từ Atlante có nghĩa là “kết thúc”; vì vậy, Kundalini có nghĩa là sự kết thúc của Cơ quan Kundartiguador. Từ điển Gnosis. ↩︎
- Tham khảo sách “The Chakras” của C. W. Leadbeater. ↩︎
- “Hệ thần kinh đại giao cảm” là một thuật ngữ cổ chỉ hệ thống các dây thần kinh kết nối cơ thể vật chất với cơ thể cảm xúc. Đọc thêm. ↩︎
- Trật tự (tiếng Anh: cosmos – thế giới, trật tự, hệ thống, vũ trụ). Trong huyền học, từ macrocosmos chỉ vũ trụ và microcosmos chỉ con người. ↩︎
- “Trên sao thì dưới cũng vậy”: Nguyên lý của triết học Hermetic cho rằng các hiện tượng ở dưới tương ứng với hiện tượng ở trên; những gì diễn ra trong thế giới vĩ mô cũng được phản ánh trong thế giới vi mô và trật tự ở cõi vật chất phản ánh các cõi trên. Xem thêm. ↩︎
- “Bảy thánh đường” được Kinh Thánh tiếng Việt gọi là Bảy Hội Thánh: “Vào ngày của Chúa, tôi được Thánh Linh cảm hóa và nghe phía sau tôi có một tiếng lớn như tiếng kèn bảo rằng: ‘Hãy viết những điều con thấy vào một quyển sách và gửi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Pẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi-a và Lao-đi-xê.’” (Khải Huyền 1:10-11) ↩︎
- Trong bối cảnh này, “thánh đường” dùng để chỉ một vị trí trong cơ thể, nơi chúng ta có thể tập trung tâm thức khi thiền. Mỗi luân xa giống như một bông hoa bắt rễ trong cột sống, vươn qua một tuyến và nở ra bên ngoài cơ thể. Từ “thánh đường” chỉ vị trí gốc của bông hoa trong cột sống. Tên gọi của những thánh đường này bắt nguồn từ sách Khải Huyền trong Kinh Thánh. Trong cuốn “Thông điệp cho thời kỳ Bảo Bình”, Samael Aun Weor giải thích rằng mỗi thánh đường được nhắc đến trong sách Khải Huyền tượng trưng cho một trong những gốc rễ của các luân xa dọc theo cột sống. Đó là lý do thầy dùng những tên gọi trong Kinh Thánh để chỉ các luân xa. ↩︎
- Thánh đường Ê-phê-sô tương ứng với luân xa Mūlādhāra, là luân xa gốc. ↩︎
- Đây là vị trí theo chiều dọc của thánh đường trong cơ thể nam giới. Thầy chưa đề cập đến vị trí của nó trên trục trước–sau của cơ thể. Hôn nhân Hoàn hảo được xuất bản năm 1950 và sửa đổi năm 1966. Trong những năm sau đó, Samael Aun Weor đã viết thêm về vị trí của các luân xa và đính chính một số chi tiết mà thầy đã viết ở đây. Để xem sơ đồ 3D thể hiện vị trí của từng luân xa và từng thánh đường trong cơ thể nam giới và nữ giới, dựa trên thông tin thầy Samael cung cấp trong các cuốn sách về sau, hãy xem tại đây. Trong phần còn lại của Chương 7 – Bảy thánh đường, sách Hôn Nhân Hoàn Hảo, chúng tôi sẽ không chú thích thêm để giải thích vị trí của các luân xa, kể cả ở những chỗ mà thông tin đã được tác giả đính chính trong các cuốn sách về sau. Xin tham khảo sơ đồ để biết thông tin đó. ↩︎
- “Nơi ba kênh nadi gặp nhau ở luân xa Mūlādhāra được gọi là Mukta Triveni” – Swami Sivananda. Đọc thêm. ↩︎
- “Kundalini, hay con rắn lửa của phép thần thông trong chúng ta” (Kundalini o la serpiente ígnea de nuestros mágicos poderes internos) là tiêu đề của một cuốn sách được xuất bản năm 1942 của tác giả Omar Cherenzi Lind. Cuốn sách đó đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà huyền học, nhưng lại dạy một phương pháp đánh thức Kundalini theo hướng tiêu cực, gắn liền với phép thuật đen. Khi nhắc đến tựa sách của Cherenzi Lind, Samael Aun Weor muốn cho độc giả biết rằng thầy đang đính chính những thông tin có hại được truyền dạy trong đó, đồng thời chỉ ra một phương pháp tích cực và an toàn để đánh thức Kundalini. ↩︎
- Chinh phục nguyên tố đất: Khi tập Samyama trên các nguyên tố, bắt đầu với loại thô và kết thúc với loại vô cùng vi tế, chúng ta chinh phục được các nguyên tố. (Patanjali Yoga Sutra 3.45, bản dịch của Swami Vivekananda) ↩︎
- Trong cơ thể phụ nữ, luân xa Si-miệc-nơ / Svadhisthana kết nối với tử cung. ↩︎
- Trong sách The Chakras của C. W. Leadbeater, luân xa thứ hai là luân xa lá lách, khác với luân xa tuyến sinh dục được thầy Samael mô tả ở đây. Khi tham khảo hình bảy luân xa của Leadbeater, là ảnh minh họa đầu tiên trong chương này, chúng ta thấy ông vẽ luân xa lá lách lệch sang bên trái. Leadbeater giải thích rằng luân xa tương ứng với tuyến sinh dục được sách Ấn Độ giáo gọi là Svādhishthāna. Leadbeater không mô tả chi tiết về luân xa này trong sách viết về bảy luân xa, vì cho rằng việc rèn luyện với tuyến sinh dục là không an toàn. Tuy nhiên, sách của Samael Aun Weor vẫn nói rằng luân xa thứ hai là Svādhishthāna theo truyền thống Ấn Độ giáo. ↩︎
- Trạng thái Jinn là trạng thái trong đó cơ thể vật chất được chuyển vào chiều thứ tư của không gian, trở nên vô hình hoặc có thể biểu hiện những hiện tượng vượt ngoài quy luật vật lý thông thường. Đây là thuật ngữ của tác giả Mario Roso de Luna. Xem thêm. ↩︎
- Ākāśa là chất nguyên sơ vi tế từ đó phát sinh ê-te và các nguyên lý của bốn nguyên tố: lửa, nước, khí và đất. ↩︎
- Từ “Pralaya” trong tiếng Phạn có nghĩa là đêm vũ trụ, khi toàn thể vũ trụ được thu lại vào trong cõi tuyệt đối và yên nghỉ cho đến khi chu kỳ sáng tạo mới khởi sinh. Đọc thêm. ↩︎
- Thần Ngôn hay Ngôi Lời là sức mạnh tạo hóa của vũ trụ, tương ứng với Logos trong tiếng Hy Lạp. Đọc thêm. ↩︎
- Đây là vị trí trên cơ thể nam giới. Trên cơ thể của cả hai giới tính, vị trí này gần hạch cụt, phía trước điểm kết nối giữa xương cụt và xương cùng. ↩︎
- Dịch giả: có nhiều câu chuyện về những người độc thân đánh thức Kundalini, và chúng tôi cũng có trải nghiệm thực tế về hiện tượng này. Điểm mấu chốt cần lưu ý là Kundalini không thể phát triển trọn vẹn nếu không luyện phép tình dục. Sự thức tỉnh Kundalini có thể đạt được mà không cần sự trợ giúp của người phối ngẫu tuy kỳ diệu và đẹp đẽ, nhưng không thể sánh về chiều sâu hay phẩm chất với sự thức tỉnh trọn vẹn mà Samael Aun Weor đang nói đến ở đây. ↩︎
- Tính dục song tính (tiếng Anh: intermediate sexuality): trạng thái tính dục không rõ ràng, nằm giữa nam và nữ. ↩︎
- Ném họ vào địa ngục mãi mãi – Ở sách “Hell, the Devil, and Karma” thầy Samael nói như sau: “Không nghi ngờ gì nữa, sự đoán phạt vĩnh viễn không tồn tại, vì tất cả việc xử phạt, dù nghiêm trọng đến thế nào, vẫn phải có giới hạn; sau đó, hạnh phúc ngự trị. […] Sau khi chất liệu tâm lý đã khôi phục được trạng thái tinh khiết bằng Cái Chết Thứ Hai, tinh chất được giải phóng để khởi đầu lại một quá trình tiến hóa toàn diện. Vì thế cho nên chúng ta phản đối giáo pháp của sự đoán phạt vĩnh viễn tuyệt đối, điều đó là hiển nhiên và rõ ràng.” ↩︎
- Con đường điểm đạo là một hệ thống thử thách dành cho người học đạo, nhằm kiểm chứng sự hiểu biết đúng đắn và sự phát triển toàn diện về đạo đức. Xem thêm tại Chương 19 – Điểm đạo, sách Hôn Nhân Hoàn Hảo. ↩︎
Đa nhãn thông (tiếng Anh: Polyvoyance): “Đa nhãn thông là nhãn thông với trực giác. Đó là sự toàn tri thần thánh.” (Samael Aun Weor, Hôn Nhân Hoàn Hảo, Chương 18)
“‘Con mắt khai mở’ là con mắt tâm linh nội tại của nhà tiên tri. Năng lực của nó không phải là thấu thị theo nghĩa thông thường, tức ‘khả năng nhìn thấy từ xa’, mà là trực giác tâm linh. Nhờ năng lực ấy, chúng ta có thể trực tiếp nhận biết chân lý.” (H. P. Blavatsky, The Secret Doctrine)
“Tuyến tùng là trung tâm của đa nhãn thông trực giác. Trong trái tim, trực giác biểu hiện dưới hình thức linh cảm; còn trong tuyến tùng, linh cảm ấy được chuyển hóa thành những hình ảnh trực giác.” (Samael Aun Weor, Alchemy and Kabbalah in the Tarot)
↩︎- Con đường “Đạo” là con đường tu hành. Đọc thêm. ↩︎
Ba con đường nhánh là:
1. Con đường rèn luyện ý chí với cơ thể vật chất, được G. I. Gurdjieff gọi là con đường Fakir, tức là con đường khổ hạnh.
2. Con đường rèn luyện cảm xúc mộ đạo, giống tu sĩ Công giáo.
3. Con đường rèn luyện với tâm trí, giống nhà sư của trường phái Thiền tông.
Con đường thứ tư, được Gurdjieff gọi là “con đường của người khôn ngoan”, kết hợp ba con đường rèn luyện về ý chí, trái tim và tâm trí nói trên. Con đường thứ tư là con đường tâm linh dành cho cư sĩ. Đó là con đường hiệu quả nhất, nhưng cũng là con đường đòi hỏi hiểu biết cao hơn ba con đường nói trên. Đọc thêm.
↩︎Trung tâm xương cụt là luân xa gốc (Mūlādhāra). Sách Khải Huyền gọi đó là Hội Thánh Ê-phê-sô:
“Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Ê-phê-sô rằng: Đây là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay phải, và đi giữa bảy chân đèn bằng vàng: ‘Ta biết các công việc của con, sự khó nhọc của con, sự kiên trì của con. Ta biết con không thể dung chịu những kẻ xấu, và đã thử những người tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, và con đã nhận ra rằng họ là những kẻ nói dối. Con kiên trì, chịu đựng vì danh Ta không chút mệt mỏi. Nhưng điều Ta trách con, ấy là con đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Vậy, hãy nhớ lại con đã sa sút từ đâu! Hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu. Nếu không ăn năn, Ta sẽ đến với con và truất bỏ chân đèn của con khỏi chỗ nó. Tuy nhiên, con được điều nầy: Ấy là con ghét những công việc của nhóm Ni-cô-la, mà Ta cũng ghét nữa.’ Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh: ‘Người nào thắng, Ta sẽ cho ăn trái cây sự sống trong Pa-ra-đi của Đức Chúa Trời.’” (Khải Huyền 2:1-7)
↩︎- Ê-đen, thanh gươm lửa: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền cho loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày xới đất đai, là nơi con người từ đó mà ra. Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn. Tại phía đông vườn Ê-đen, Ngài đặt các chê-ru-bim với thanh gươm sáng chói, xoay mọi hướng, để canh giữ con đường đi đến cây sự sống.” (Sáng Thế Ký 3:23-24) ↩︎
- ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem con người vào trong vườn Ê-đen để canh tác và gìn giữ vườn. Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền phán với con người rằng: “Con được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, nhưng về trái của cây biết điều thiện và điều ác thì con không được ăn, vì ngày nào con ăn trái cây đó, chắc chắn con sẽ chết.”’ (Sáng Thế Ký 2:15-17) ↩︎
- Nâng niu phụ nữ: Khi Thầy Samael viết cuốn sách này tại Colombia vào khoảng năm 1950, đa số đệ tử của Thầy là nam giới, vì vào thời đó phụ nữ chưa có được sự tự do và bình đẳng như ngày nay. ↩︎
- Sethian và Naassenes là hai giáo phái Kitô giáo Gnosis của thế kỷ thứ II CN. ↩︎
- Trong chương 14 của sách Xuất Ai Cập Ký, Môi-se đã dẫn người Do Thái đi qua Biển Đỏ để giải thoát họ khỏi quân đội Ai Cập. Câu chuyện này tượng trưng cho một quá trình phát triển tâm linh.e ↩︎
- Huiracocha là pháp danh của thầy Arnold Krumm-Heller ↩︎
Thầy Krum-Heller nói đến một câu chuyện trong Cựu Ước, sách Dân Số Ký, chương 21, kể rằng dân Israel bị rắn lửa cắn. Khi họ cầu xin Môi-se cứu giúp, Thiên Chúa bảo Môi-se làm một con rắn bằng đồng và treo lên cây gậy. Ai bị rắn lửa cắn, chỉ cần nhìn lên con rắn đồng ấy thì sẽ được chữa khỏi. Đọc thêm:
https://gnosisvn.org/2022/01/07/mo-se-treo-con-ran-dong-len-cay-sao-dan-so-ky-124-9/
https://gnosisvn.org/2024/03/01/cai-gay-bien-thanh-con-ran-xuat-ai-cap-ky-7/
↩︎- Khem: tên gọi cổ xưa của Ai Cập. Một số nhà sử học cho rằng đó là từ gốc của “chemistry” (hóa học), và “alchemy” (thuật luyện kim đan). Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2023/07/22/𓆎𓅓𓏏𓊖-km-t/ ↩︎
Đức Chúa toàn thiện: Chúa Giêsu.
“Ta đã gọi con ta từ Ai Cập ra.” (Ma-thi-ơ 2:15)
↩︎- “Lời tiên tri của Cazotte” (La Prophétie de Cazotte): Tác phẩm của nhà văn và nhà phê bình Pháp Jean-François de La Harpe, kể lại lời tiên đoán được cho là của Jacques Cazotte về số phận bi thảm của nhiều nhân vật trong Cách mạng Pháp. Xem thêm: https://fr.wikipedia.org/wiki/Jean-Fran%C3%A7ois_de_La_Harpe ↩︎
- Áo của Nessus: Trong thần thoại Hy Lạp, Nessus là một con nhân mã đã bắt cóc Deianeira, vợ của Heracles. Heracles đuổi theo và bắn chết hắn bằng mũi tên tẩm nọc độc của Hydra. Trước khi chết, Nessus bảo Deianeira rằng chiếc áo thấm máu của hắn có phép thần kỳ, giúp người mặc luôn chung thủy với vợ. Tin lời, Deianeira mang áo về cho Heracles. Nhưng khi mặc vào, Heracles bị nhiễm độc từ máu của Nessus pha với nọc độc của Hydra và chết trong đau đớn. Hình ảnh này tượng trưng cho một món quà chết người, một tai họa không thể tránh khỏi. Độc thêm: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nessus_(thần_thoại) ↩︎


