Gnosis Hà Nội / Tủ sách

Học viện Thiền

Từ thư giãn và hơi thở đến tập trung và thiền. Một hành trình học hỏi gắn liền với thực hành nội tâm.

Bắt đầu đọc →
Tranh minh họa Học viện Thiền
Học viện Thiền / Đọc sách

Lời giới thiệu

GNOSIS HÀ NỘI · BÀI VIẾT

Tâm lý học & các luân xa

Đọc phần giới thiệu bên dưới, hoặc chọn một chương trong mục lục để bắt đầu.

Bắt đầu đọc · Chương 1 →

Các luân xa là những trung tâm vi tế của sự chuyển hóa năng lượng sống; do đó, chúng là nơi diễn ra sự tương tác giữa ý thức về thế giới vi tế và ý thức về thế giới giác quan.

Giới thiệu

Chủ đề này, mang tựa đề Tâm lý học và các luân xa, một lần nữa cho thấy rằng minh triết vốn là một, bất chấp khoảng cách của không gian, sự khác biệt của thời đại, hay những giới hạn và điều kiện mà các giác quan nhận thức bên ngoài lẫn bên trong áp đặt lên chúng ta.

Các luân xa là những trung tâm vi tế của sự chuyển hóa năng lượng sống; do đó, chúng là nơi diễn ra sự tương tác giữa ý thức về thế giới vi tế và ý thức về thế giới giác quan.

Việc nghiên cứu các trung tâm năng lượng của sự chuyển hóa này không chỉ là một kim chỉ nam đích thực trên con đường thực chứng tâm linh, mà các luân xa còn là nguồn thông tin và tri thức vô cùng quý giá về tâm lý học.

Chúng ta được biết rằng tâm lý học là một ngành khoa học mới của thời hiện đại, được chính thức công nhận như vậy ở Đức cách đây khoảng một thế kỷ. Tuy nhiên, sự thật là ngành khoa học này đã tồn tại từ rất lâu, dù không phải lúc nào cũng được gọi là tâm lý học như ngày nay. Vì lý do này hay lý do khác, tâm lý học thường bị nghi ngờ là mang những khuynh hướng lật đổ về chính trị hoặc tôn giáo; bởi thế, buộc phải khoác lên mình nhiều lớp áo khác nhau.

Có bảy trung tâm tâm thức, được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau trong các nền văn minh cổ đại, tùy theo truyền thống tâm linh của từng thời kỳ. Chúng được gọi là luân xa, hoa sen, bánh xe, trung tâm, hoa hồng, giáo hội, giác quan, v.v. Điều quan trọng là các trung tâm này tương ứng với các tuyến nội tiết, và chính mối liên hệ đó là một trong những trọng tâm của Cuộc chuyển hóa tâm lý do trường phái Gnosis phổ quát giảng dạy.

Sơ đồ bảy luân xa của cơ thể vi tế, họa sĩ khuyết danh, cuối thế kỷ XIX.

1. Tâm lý học

Để hiểu mối quan hệ giữa các luân xa và tâm lý học, tôi sẽ giải thích bản chất của ngành khoa học cổ xưa nghiên cứu về hồn.

Tâm lý học là ngành nghiên cứu những nguyên lý, quy luật và hiện tượng liên quan đến Cách mạng tâm thức, tức sự chuyển hóa triệt để của con người.

Theo nghĩa gốc của từ này, tâm lý học là khoa học về hồn. Từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: psyché (hồn) và logos (tri thức, khoa học). Nhưng liệu chúng ta có thực sự hiểu hồn là gì? Và ngày nay, có ngành khoa học nào có khả năng nghiên cứu hồn hay không?

Những câu hỏi ấy không dễ có lời giải đáp đối với các nhà khoa học duy vật. Nói rằng đó là một ngành khoa học mới thì dễ hơn nhiều.

Không quá lời khi nói rằng, từ thuở xa xưa của nhân loại, tâm lý học đã là một mắt xích quan trọng kết nối khoa học, triết học, nghệ thuật và tôn giáo.

Chính từ sự giao thoa giữa bốn hình thức tri thức này mà ngành tâm lý học được hình thành. Chẳng hạn, nếu để ý thì sẽ thấy rằng phương pháp khoa học — với các bước quan sát, thực nghiệm và phân loại — về bản chất là một tiến trình mang tính tâm lý học.

Không có sự tự phản tỉnh của tâm thức, chúng ta không thể giải đáp những câu hỏi về bản chất của mọi sự (Bản thể): nó biểu hiện như thế nào, hiện diện ở đâu và vì sao tồn tại, dù thoạt nhìn đây dường như chỉ là một vấn đề triết học.

Việc tìm kiếm, khám phá và yêu mến cái đẹp cùng cái cao cả dường như chỉ thuộc về lĩnh vực nghệ thuật, nhưng rõ ràng ở đây chúng ta cũng không thể bỏ qua tâm lý học.

Và không còn nghi ngờ gì nữa, sự tái kết nối về mặt tâm linh là mục tiêu cao nhất mà con người có thể hướng tới; nhưng nếu không có sự trợ giúp của tâm lý học, điều đó sẽ là bất khả thi.

Con người đã dần quên đi chính mình, quên đi bản chất sâu thẳm của mình. Từ đó, sự thống nhất nguyên sơ của tri thức bị phá vỡ và nhường chỗ cho nhiều lĩnh vực hiểu biết riêng biệt, điều hoàn toàn trái ngược với bản chất nhất thể của tâm. Chính từ tiến trình phân hóa ấy mà quan niệm hiện đại về tâm lý học trên thế giới được hình thành.

Vì những lý do ấy, ngày nay chúng tôi cho rằng tâm lý học chưa bao giờ suy giảm đến mức như hiện nay. Bằng chứng là sự chia rẽ sâu sắc giữa các nhà khoa học, người theo tôn giáo, các triết gia và nghệ sĩ. Đằng sau sự chia rẽ đó là mối quan hệ sai lầm của con người với chính mình, một yếu tố mang tính quyết định trong toàn bộ vấn đề này.

Về nguồn gốc đích thực của tâm lý học, chúng tôi chỉ có thể nói rằng nó cổ xưa như chính tâm thức. Nói đúng hơn, nó thuộc về một thực tại vượt ngoài thời gian. Làm sao có thể đo lường điều chưa từng có điểm khởi đầu và cũng sẽ chẳng có điểm kết thúc?

Vào thời xa xưa, tâm lý học, khéo léo ẩn mình dưới chiếc áo của triết học, luôn có mục tiêu hướng đến việc tìm kiếm những nguyên nhân sâu xa của cuộc sống.

Ngày nay chúng ta biết rằng bên bờ sông Hằng, trong nền văn minh Vệ Đà1 của Ấn Độ cổ đại, đã phát triển những hình thức yoga được đặt nền tảng trên tâm lý học thực nghiệm thuần túy. Bảy loại yoga được biết đến đều lấy những nguyên lý triết học và tâm lý học làm nền tảng cho các phương pháp của mình.

Các bậc ghāt tắm và những ngôi đền thờ Lingam bên sông Hằng, Benares, Ấn Độ, theo tranh của S. G. Dawson.

Trong các giáo lý thiêng liêng của những người Sufi2, siêu hình học và tôn giáo Ả Rập mang một nội dung tâm lý học sâu sắc.

Giữa bầu không khí đầy chiến tranh và định kiến của châu Âu cuối thế kỷ trước, tâm lý học đã phải một lần nữa ẩn mình dưới chiếc áo của triết học.

Các nhà luyện kim đan thời Trung cổ đã che giấu Đại Bí Pháp về sự chuyển hóa sinh học và cuộc cách mạng tâm lý sau vô số biểu tượng và ẩn dụ huyền học, nhằm bảo vệ pháp này khỏi sự báng bổ, đồng thời tránh cho chính mình khỏi bị thiêu sống trên giàn hỏa thiêu của Tòa án Dị giáo.

Người Ai Cập cổ đại đã lưu truyền truyền thuyết về Osiris, vị thần đáng tôn kính, vĩ đại và nhân từ, Hoàng tử của Cõi Vĩnh Hằng, đồng thời là biểu tượng của tâm thức nơi mỗi con người. Đối nghịch với ngài là Seth cùng những kẻ đồng lõa của hắn. Seth là vị thần của bệnh tật, bão tố và hỗn loạn. Truyền thuyết Osiris có tầm quan trọng đặc biệt, bởi nó không chỉ là linh hồn của tôn giáo Ai Cập suốt hàng nghìn năm mà còn trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm sân khấu trên khắp thế giới. Xét dưới góc độ tâm lý học, Osiris tượng trưng cho Chân Ngã đích thực trong con người. Còn Seth, kẻ phản bội đã chiếm đoạt ngai vàng Ai Cập — vương quốc tâm lý của chúng ta — tượng trưng cho cái tôi vị kỷ. Đưa Osiris nội tâm trở lại ngai vàng của mình là điều hoàn toàn có thể nếu chúng ta thực hiện công trình chuyển hóa nội tâm.

Nếu tiến hành một nghiên cứu so sánh về các tôn giáo, chúng ta có thể đi đến một kết luận rất quan trọng: trong chiều sâu của tất cả các tôn giáo ấy đều chứa đựng nhiều yếu tố tâm lý học hơn người ta vẫn tưởng. Việc rèn luyện các tu sĩ trong tinh thần tự chủ và kỷ luật nội tâm chính là tâm lý học đích thực ở trình độ cao.

Trong các trường phái tâm linh cổ xưa của Tây Tạng, Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư, Can-đê, Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Mexico, Peru…, tâm lý học luôn là một phần không thể tách rời của triết học, nghệ thuật khách quan, khoa học siêu việt và tôn giáo phổ quát.

Những nghiên cứu sâu rộng về giáo lý Gnosis đã giúp làm sáng tỏ những khuynh hướng khác nhau của các môn đồ Gnosis Kitô giáo thời sơ khai, những người đã chuyên tâm nghiên cứu Philokalia3. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là tâm lý học thực nghiệm.

Khi các trường phái điểm đạo bị đóng cửa, tâm lý học vẫn được lưu giữ trong những chữ tượng hình kỳ bí, những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp, những dáng vẻ uyển chuyển của các vũ nữ thiêng liêng, cũng như trong thi ca, sân khấu, v.v.

Khi hiểu được tầm quan trọng của việc nghiên cứu con người dưới góc độ tâm lý trong mối liên hệ với khoa học, nghệ thuật, triết học và tôn giáo, chúng ta sẽ nhận ra rằng tâm lý học là ngành nghiên cứu những nguyên lý, quy luật và hiện tượng gắn liền với Cách mạng tâm thức, hay sự chuyển hóa triệt để của con người.

Nhu cầu lớn nhất của mỗi con người là thấu hiểu cuộc sống trong tính toàn thể của nó, bởi chỉ khi đó chúng ta mới có thể giải quyết được những vấn đề tâm lý sâu kín của mình.

Để bước vào con đường này, trước hết chúng ta cần làm sáng tỏ một điều: Bản chất của chúng ta là gì? Tôi là ai?

2. Bản chất của con người

Xét về phương diện cơ thể, chúng ta là một cỗ máy con người vô cùng tinh vi, được cấu thành bởi năm trung tâm thấp hơn và hai trung tâm cao hơn. Tên gọi của các trung tâm này, theo thứ tự tốc độ hoạt động của chúng, như sau:

  • Trung tâm lý trí: có trọng tâm ở não bộ.
  • Trung tâm vận động: có trọng tâm ở phần trên của cột sống.
  • Trung tâm bản năng: có trọng tâm ở phần dưới của cột sống.
  • Trung tâm cảm xúc: có trọng tâm tại đám rối dương.
  • Trung tâm tình dục: có trọng tâm, hay gốc rễ ở cơ quan sinh dục.
  • Trung tâm cảm xúc cao cấp và trung tâm lý trí cao cấp.
Sơ đồ “cỗ máy con người” minh họa vai trò của tính cách như một cầu nối giữa năm trung tâm bên trong con người và thế giới bên ngoài.

Mỗi trung tâm đều tác động đến toàn bộ cơ thể, nhưng vẫn có một vị trí trọng tâm riêng. Mỗi trung tâm đảm nhiệm những chức năng riêng biệt và được xác định rõ ràng.

Về phương diện tâm lý, chúng ta là một cơ thể năng lượng gồm bảy loại năng lượng được sắp xếp theo một trật tự chính xác, dựa trên mật độ và độ tinh tế của chúng:

  • Thứ nhất: Năng lượng máy móc.
  • Thứ hai: Năng lượng sinh lực.
  • Thứ ba: Năng lượng tâm lý.
  • Thứ tư: Năng lượng trí tuệ.
  • Thứ năm: Năng lượng ý chí.
  • Thứ sáu: Năng lượng tâm thức.
  • Thứ bảy: Năng lượng Tâm linh Thuần khiết.

Cỗ máy con người là một cơ thể sống, được cấu thành từ các cơ quan, tế bào, phân tử và nguyên tử. Đồng thời, đó cũng là một cơ thể năng lượng gồm nhiều loại năng lượng khác nhau đan xen với nhau mà không hòa lẫn, mỗi loại đều thực hiện mục đích riêng của mình. Về phương diện hữu cơ, chúng ta là tất cả những điều đó.

Về cỗ máy con người, Thầy Samael viết như sau:

Khi chúng ta cố gắng hình dung một cách rõ ràng và chính xác cơ thể huy hoàng của hệ Mặt trời, với tất cả những lớp cấu trúc kỳ diệu và những mối liên kết tinh tế được dệt nên bởi các hành tinh, thì trong tâm trí chúng ta sẽ hiện lên hình ảnh sống động của cơ thể con người cùng hệ xương, hệ bạch huyết, hệ động mạch, hệ thần kinh, v.v., những hệ thống mà, không còn nghi ngờ gì nữa, được cấu thành và liên kết theo cùng một quy luật.

Hệ Mặt trời Ors, nơi chúng ta sống, vận động và hiện hữu, khi nhìn từ xa, giống như một con người đang bước đi giữa cõi vô tận bất biến. Con người, một tiểu vũ trụ, là một hệ Mặt trời thu nhỏ, một cỗ máy kỳ diệu với vô số mạng lưới phân phối năng lượng ở những cấp độ điện thế khác nhau.

Cấu trúc của cỗ máy con người gồm bảy hoặc tám hệ thống chính, được nâng đỡ bởi một bộ khung xương kỳ diệu và liên kết thành một chỉnh thể thống nhất nhờ các mô liên kết. Khoa học y học đã cho thấy rằng mọi hệ thống trong cơ thể con người đều được liên kết và vận hành hài hòa nhờ Mặt Trời của cơ thể: trái tim ban sự sống, nơi nuôi dưỡng và duy trì sự sống của tiểu vũ trụ con người.

Mỗi hệ thống cơ quan đều trải khắp cơ thể, và trong mỗi hệ thống ấy, một tuyến nội tiết giữ vai trò chủ đạo. Quả thật, những tuyến kỳ diệu này là những phòng thí nghiệm siêu nhỏ đích thực, được đặt tại những vị trí nhất định để thực hiện chức năng điều hòa và chuyển hóa.

— Samael Aun Weor

Một cỗ máy là tập hợp những chức năng máy móc, phản ứng trước các kích thích từ bên ngoài. Thật đáng tiếc, cỗ máy con người cũng không phải ngoại lệ; giống như mọi cỗ máy khác, nó vận hành dưới tác động của những xung lực vi tế từ vũ trụ, kể cả những ấn tượng của đời sống, vốn tác động đến tâm lý và cách sống của chúng ta.

Vì vậy, chúng ta là một cỗ máy nhỏ bé thu nhận và chuyển hóa các năng lượng vũ trụ, rồi sau đó vô thức điều chỉnh chúng cho phù hợp với các tầng bên trong của trái đất. Dù sao đi nữa, điều quan trọng là ý thức được hiện tượng tự nhiên này. Đây chính là mục tiêu của công việc mà trường phái Gnosis phổ quát đề xuất.

Toàn thể nhân loại là một cơ quan của tự nhiên, đảm nhận chức năng chuyển hóa những năng lượng vũ trụ căn bản và cần thiết cho sự vận hành của mọi đơn vị hành tinh trong không gian vô tận.

Sống chỉ để phục vụ những mục đích của thiên nhiên máy móc là điều phi lý. Ý nghĩa duy nhất của cuộc sống là biết sử dụng một cách thông minh những bức xạ vũ trụ của đời sống để trở nên khách quan và tỉnh thức hơn.

3. Tôi là ai?

Trong thế giới nội tâm, ban đầu chúng ta được cấu thành bởi ba yếu tố cơ bản: Phật tính hay tâm thức, cái tôi-thú vật, và tính cách. Cái tôi-thú vật này đã được các trường phái Gnosis về tái sinh nghiên cứu sâu rộng.

Ngoài ba yếu tố trên, còn có những phương diện khác của Bản thể có mối liên hệ với tâm thức, và chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu chúng trong suốt tác phẩm này.

Phật tính

Phật tính, hay tâm thức, là nền tảng của cấu trúc tâm lý nơi chúng ta. Đó là yếu tố siêu việt, thiêng liêng duy nhất kết nối chúng ta với Thực Tại Vũ Trụ Vĩ Đại.

Phát triển Phật tính chính là công việc rèn luyện tâm lý nội tâm. Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta biết tận dụng những cơ hội mà thiên nhiên không ngừng mang lại; nhưng thông thường, điều này không xảy ra.

Chúng ta cần hiểu rằng trong Phật tính chứa đựng những yếu tố thiết yếu cho sự tái sinh, cho sự khai ngộ nội tâm của Bản thể, cũng như cho sự trải nghiệm trực tiếp và khách quan những khía cạnh khoa học, nghệ thuật, triết học và tôn giáo của các nền văn minh lớn.

Tỉnh thức là sự trải nghiệm trực tiếp Phật tính; đó là một trạng thái nhận biết khách quan.

Sống trong trạng thái tỉnh thức là luôn ở trong sự kết nối với Phật tính. Khi ấy, chúng ta trực tiếp nhận ra những gì Phật tính vốn biết, bởi không có gì hiện hữu hay có thể hiện hữu bên ngoài nó.

Đối với Phật tính, tỉnh thức là một quá trình vươn lên những cấp độ hòa hợp ngày càng sâu sắc hơn với công trình sáng tạo vĩ đại của vũ trụ. Đối với Phật tính, đó là con đường tự hoàn thiện và kết tinh thành linh hồn.

Do đó, điều chắc chắn là không phải mọi Phật tính đều đạt đến trạng thái ý thức phổ quát, tức khả năng hiểu được bản chất, nguồn gốc và ý nghĩa của mọi sự.

Cái tôi thú tính

Cái tôi mà chúng ta mang trong tâm là gì? Khi tự quan sát bản thân về mặt tâm lý, chúng ta sẽ phát hiện rằng cái tôi là một tập hợp gồm những ham muốn, ký ức, suy nghĩ, ý kiến, khái niệm, định kiến, dục vọng, nỗi sợ hãi, v.v.

Thực ra, cái tôi của mỗi người mang tính đa nguyên và luôn biểu hiện thành nhiều cái tôi khác nhau. Điều đó có nghĩa là chúng ta có nhiều cái tôi, chứ không phải chỉ một như người ta vẫn tưởng.

Phủ nhận giáo lý về cái tôi đa nguyên là điều không hợp lý, bởi điều đó đồng nghĩa với việc phủ nhận những mâu thuẫn nội tại mà chúng ta có ở bên trong.

Các cái tôi, hay những khiếm khuyết tâm lý, còn được gọi là các cấu trúc tâm lý, bởi chúng không thuộc về tâm thức hay Phật tính. Trái lại, chính chúng đã giam hãm và điều kiện hóa Phật tính. Vì vậy, thức tỉnh tâm thức có nghĩa là làm tan rã các cái tôi để có được sự tự do trọn vẹn.

Cái tôi là những ấn tượng chưa được chuyển hóa một cách có ý thức. Điều chân thực nhất trong cuộc sống chính là những ấn tượng mà cuộc sống mang đến cho chúng ta. Biết chuyển hóa những ấn tượng ấy là biết chuyển hóa chính bản thân. Như chúng ta đã nói, chúng ta có thể tiếp tục phát triển Phật tính, hoặc ngược lại, để nó dần suy yếu và chìm vào giấc ngủ sâu của vô minh.

Tính cách

Con người sinh ra với Phật tính, nhưng không sinh ra với tính cách; tính cách được hình thành dần theo thời gian.

Phật tính chứa đựng tất cả những gì thực sự thuộc về chúng ta; còn tính cách lại bao gồm tất cả những gì vay mượn từ bên ngoài. Trong tính cách có những giá trị tiếp nhận từ tấm gương của cha mẹ, từ những điều học được ở trường học, ngoài đường phố, v.v.

Tính cách chỉ là một phương tiện được tạo nên để chúng ta hoạt động trong đời sống. Do đó, nó có thể phục vụ cái tôi, hoặc phục vụ những giá trị cao đẹp của Phật tính.

Tôi là ai? Câu trả lời phụ thuộc vào cách chúng ta suy nghĩ, cảm nhận và hành động.

Điều đầu tiên là quan sát: điều gì đang chi phối suy nghĩ, cảm xúc và hành động của chúng ta…

Tôi có thể sống trong sự chi phối của cái tôi thú tính, hoặc sống trong sự kết nối với Phật tính, với tâm thức. Hiện hữu cao hơn tồn tại. Cái phi cá nhân thuộc về hiện hữu, còn cái cá nhân thuộc về sự tồn tại của cái tôi.

Một tâm trí và một trái tim suy nghĩ, cảm nhận theo lối vị kỷ tất yếu sẽ dẫn đến sự ích kỷ, chia rẽ, v.v. Ngược lại, khi chúng ta suy nghĩ và cảm nhận rằng mọi sự vật và chúng sinh đều là một phần của một tổng thể sống động, liên hệ và gắn bó mật thiết với nhau trong một trật tự thông minh, thì đó là sống trong một trạng thái hiện hữu vô ngã chấp.

Chúng tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng nhu cầu lớn nhất của mỗi con người là thấu hiểu cuộc sống như một chỉnh thể thống nhất. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể giải quyết tận gốc những vấn đề tâm lý sâu xa của mình.

4. Tư duy tâm lý

Khi một người chấp nhận rằng mình có một đời sống tâm lý riêng và hiểu rằng mình không phải là một mà là nhiều người, thì người ấy bắt đầu quan sát bản thân. Từ đó, người ấy bắt đầu suy nghĩ theo một cách khác: suy nghĩ theo hướng tâm lý.

Để học cách suy nghĩ theo hướng tâm lý, trước hết cần phải thấu hiểu một cách sâu sắc cơ chế vận hành phức tạp của tâm trí.

Bộ não chỉ là công cụ của tâm trí; nó không phải là tâm trí. Tâm trí có bản chất năng lượng và vi tế. Trong giấc ngủ bình thường hoặc trong một số trạng thái thôi miên, nó có thể tách khỏi cơ thể vật chất để nhìn và nghe được những gì đang diễn ra ở nơi khác.

Tâm trí có nhiều tầng sâu, vùng miền, khu vực tiềm thức và nhiều ngóc ngách khác nhau; nhưng phần tốt đẹp nhất là Phật tính, là tâm thức, và nó nằm ở trung tâm.

Tâm trí có thể trở thành phương tiện biểu hiện của tâm thức, nhưng cũng có thể biến thành hang ổ của cái tôi-thú vật. Muốn phụng sự tâm thức, tâm trí phải trở nên hoàn toàn thụ động, tiếp nhận và toàn vẹn. Đây chính là là tư duy theo hướng tâm lý.

Khi là hang ổ của cái tôi-thú vật, tâm trí mang tính tích lũy; vì thế, nó lệ thuộc vào yếu tố thời gian, làm nô lệ cho quá khứ, bất an trước tương lai, và vắng mặt trong hiện tại. Từ đó nảy sinh thói quen xấu là so sánh. Chẳng hạn, người chiêm ngưỡng một cảnh hoàng hôn đẹp mà lại so sánh nó với một cảnh hoàng hôn khác, thì thật ra chưa biết thấu hiểu vẻ đẹp đang hiện diện trước mắt mình.

Khi nói rằng tâm trí là kẻ giết chết cái thực, cái chân thật, cần hiểu theo nghĩa rằng đó là tâm trí luôn hoạt động, luôn phản ứng và can thiệp.

Tâm trí bị chia rẽ bởi sự so sánh. Khi bị tính nhị nguyên chi phối, nó cản trở hoạt động của tâm thức. Chỉ khi tính nhị nguyên chấm dứt, khi tâm trí trở nên toàn vẹn, thanh thản, tĩnh lặng và sâu sắc, không còn so sánh nữa, thì Phật tính, tức tâm thức, mới có thể thức tỉnh. Đó chính là mục tiêu của tư duy tâm lý.

Một tâm trí thanh thản sẽ trở nên năng động hơn rất nhiều, vì nó mở đường cho bảy loại năng lượng cơ bản lưu chuyển trong toàn bộ cỗ máy cơ thể con người.

5. Các trung tâm năng lượng

Có bảy trung tâm năng lượng dùng để chuyển hóa năng lượng sống. Từ xưa, những nền văn minh nghiên cứu con người-vũ trụ đã gọi các trung tâm này bằng nhiều tên khác nhau. Họ xem con người là hình ảnh phản chiếu của Đấng Sáng Tạo.

Bảy luân xa, hoa sen, bánh xe, hoa hồng, nhà thờ, giác quan, hành tinh, đám rối thần kinh, tuyến nội tiết, v.v., đều tương ứng với các loại năng lượng sống lưu chuyển trong toàn bộ thiên nhiên.

Các trung tâm năng lượng, hay luân xa, liên hệ với năm trung tâm vận hành của cỗ máy cơ thể con người: lý trí, vận động, bản năng, cảm xúc và tính dục.

Việc nghiên cứu từng trung tâm năng lượng sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tâm lý của mình, vì mỗi loại năng lượng đều có đặc tính riêng và có sự tương ứng với thiên nhiên, mà chúng ta là con cái của thiên nhiên ấy.

Các luân xa là những trung tâm tâm linh, không thể được mô tả đầy đủ từ quan điểm duy vật. Chúng là những trung tâm hoạt động của một lực vi tế gọi là prana (khí).

Prana là tổng hòa của năng lượng được biểu hiện trong vũ trụ. Prana là rung động, điện lực, chuyển động, ánh sáng và nhiệt, từ tính vũ trụ, là sự sống. Prana là tổng hòa của những lực tiềm tàng, ẩn sâu trong con người và bao trùm khắp xung quanh.

Prana và các trung tâm năng lượng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Prana đi vào cơ thể qua các luân xa, rồi từ đó đi vào các tuyến nội tiết dưới nhiều dạng biến đổi khác nhau. Trong những “phòng thí nghiệm” nội tiết nhỏ bé ấy, prana làm cho hoạt động của các tuyến trở nên mạnh mẽ hơn, rồi dần dần chuyển hóa thành hoóc-môn, gene, nhiễm sắc thể, và sau cùng thành tinh trùng. Prana đi vào cơ thể, nhưng không rời khỏi cơ thể nữa.

Thông qua những gì chúng ta ăn, hít thở và suy nghĩ, prana đi vào cơ thể. Còn chất lượng của sự chuyển hóa ấy sẽ tùy thuộc vào công việc rèn luyện nội tâm của chính chúng ta. Hoạt động của mỗi trung tâm năng lượng, hay luân xa, có thể làm cho Phật tính, tức tâm thức, tăng trưởng hoặc suy giảm. Đến đây, chúng ta có thể hiểu sâu hơn ý nghĩa của câu trong Phúc Âm: “Con người sống không chỉ nhờ bánh mì.”

Chiều quay của các luân xa

6. Tâm lý học qua các luân xa

Để biết, chúng ta cần học hỏi; để hiểu, chúng ta phải chất vấn, nghiên cứu và suy ngẫm. Chỉ khi ấy, ta mới có thể thâm nhập một cách khách quan vào tận cốt lõi của điều mình hằng khao khát được biết.

Ở cấp độ đầu tiên, những công cụ tâm lý dùng để nghiên cứu khoa học, triết học, nghệ thuật và tâm linh là các giác quan thông thường. Ở những cấp độ cao hơn, các công cụ ấy là tâm trí, cảm xúc cao cấp và tâm thức tối thượng.

Rõ ràng, thông tin đến từ năm giác quan bên ngoài vốn đã có giới hạn, nên không đủ cho việc nghiên cứu tâm lý của chính mình. Muốn hiểu tâm lý rất riêng của bản thân, cần có một sự thay đổi toàn diện trong cách chúng ta sử dụng các giác quan và tâm trí.

Chúng ta có thể nói “các giác quan và tâm trí”, cũng có thể nói “tâm trí và các giác quan”, vì cả hai đều bị điều kiện hóa bởi cái nhìn chủ quan của chúng ta về thế giới của hình tướng, không gian và thời gian.

Trong việc biết chính mình, chúng ta cần nghiên cứu với sự chính xác gần như toán học và thực nghiệm một cách nghiêm túc, nếu thật sự khao khát chạm đến chân lý của vấn đề này. Sự hướng ngoại là hoạt động của tâm trí bên ngoài, hay tâm trí cảm giác, vì nó làm nô lệ cho các giác quan. Khi sử dụng tâm trí theo cách này, chúng ta ngày càng rời xa Phật tính, tức tâm thức. Sự hướng nội là hoạt động của tâm trí bên trong; và chính tâm trí bên trong này là phương tiện biểu đạt của tâm thức.

Tâm giác quan, hay tâm hướng ngoại, làm cho tâm thức trở thành nô lệ của các giác quan và những ấn tượng chủ quan do chúng mang lại. Các ấn tượng ấy đi qua giác quan dưới dạng cảm giác, rồi va chạm với tâm hướng ngoại và biến thành ký ức, hồi ức hoặc tri giác bên ngoài. Tri giác có thể được hiểu là ký ức được hình thành từ nhiều cảm giác. Tuy nhiên, những cảm giác và tri giác ấy không chạm được đến tâm thức.

Trong chương III của tác phẩm này, chúng ta đã nói rằng nền tảng của tổ chức tâm lý nằm trong Phật tính, tức tâm thức. Đó là yếu tố siêu việt và thiêng liêng duy nhất liên kết chúng ta với Thực tại Vĩ đại, với Bản thể Tuyệt đối. Giờ đây, chúng ta có thể nói thêm rằng nếu không dần dần hướng tâm trí vào bên trong, trong mối liên hệ với tâm thức, chúng ta sẽ chìm vào một giấc ngủ thôi miên sâu. Khi ấy, qua tâm giác quan, chúng ta sẽ tự lừa dối mình rằng ta đang thức tỉnh trước những tri thức mới mẻ và kỳ diệu về đời sống trần thế.

Nhớ bản thân là thấu hiểu cuộc sống trần thế, và thấy rằng đời sống ấy được đặt trên nền tảng của thế giới cảm giác và sự thỏa mãn. Có nhiều dạng cảm giác khác nhau, tùy theo giác quan nào trải nghiệm chúng; nhưng tựu trung, chúng vẫn là những thỏa mãn dễ chịu hoặc khó chịu. Nhìn từ quan điểm của tâm hướng ngoại, đời sống được định nghĩa bằng những khoái lạc mãnh liệt và những nỗi đau khủng khiếp.

Sung sướng ra sao thì đau khổ cũng như vậy. Và chính theo cách ấy mà cuộc đời của con người bình thường trôi qua, không có bất kỳ sự siêu vượt nào cho tâm thức — vốn cần được biết đến, được thấu hiểu và nuôi dưỡng, cho đến khi rung động cùng chân lý tuyệt đối của công trình tạo hóa mênh mông này.

Nếu hiểu được nhu cầu trao cho tâm thức những cơ hội tốt hơn và lớn hơn, chúng ta phải bước một bước vào bên trong, hướng lên trên, để có thể hợp nhất các giác quan với tâm trí, và tâm trí với tâm thức. Mắt xích còn thiếu ấy nằm ngay trong chính tâm trí, không phải điều gì xa lạ; mắt xích ấy được gọi là cảm xúc cao cấp.

Học cách cảm nhận bằng tâm trí và học cách suy nghĩ bằng trái tim — đó có lẽ là cách mô tả ngắn gọn và dễ hiểu nhất về cách vận hành của tâm trí bên trong. Tuy vậy, nếu bổ sung thêm một vài dữ kiện, chúng ta sẽ có thể hiểu sâu hơn về vấn đề vô cùng quan trọng này.

Tâm thức là nguyên lý tổ chức đích thực của tâm trí, bởi tâm thức có trước, rồi sau đó tâm trí mới xuất hiện. Khởi đầu của mọi sự là năng lượng rung động cực cao của tâm thức tối thượng nơi Bản thể; còn tâm trí là hệ quả của hoạt động ấy. Cõi vô tướng, vô vi là Tâm linh Thuần khiết; còn cõi của hình tướng và chuyển động, trong không-thời gian của tự nhiên, là Tâm Vũ Trụ.

Cần biết rằng, trước khi năng lượng và vật chất của vũ trụ xuất hiện dưới dạng mà chúng ta thấy ngày nay, chúng chỉ ở trạng thái tiềm năng trong cái được gọi là cõi Tuyệt đối, hay Tính không. Người ta nói về vùng này rằng nó không có khởi nguyên cũng không có kết thúc; nó đã luôn có như vậy. Khi ấy, trong vũ trụ mà chúng ta đang sống, năng lượng vẫn chưa có chuyển động, và vật chất vẫn chưa có hình tướng.

Cõi Tuyệt đối hay Tính không trên cây sự sống

Tâm giác quan không biết được điều này; vì thế, chúng ta có thể hiểu vì sao nó phản ứng một cách máy móc trước những ấn tượng liên tục đi vào nó. Dạy cho tâm ấy vượt lên khỏi trạng thái hoàn toàn hướng ngoại của mình chính là điều mà trong chương IV chúng ta đã gọi là Tư duy tâm lý.

Để học cách tư duy tâm lý, cần thấu hiểu một cách toàn diện vấn đề phức tạp của tâm trí.

Một tâm trí thanh thản sẽ trở nên năng động hơn rất nhiều, vì nó cho phép bảy loại năng lượng cơ bản lưu thông qua cỗ máy cơ thể con người và qua cấu trúc giải phẫu huyền bí của chúng ta.

Khi tâm trí hợp nhất với tâm thức, chúng ta có thể bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về cỗ máy cơ thể con người. Lúc ấy, ta sẽ thấy mối liên hệ giữa bảy trung tâm bên trong cơ thể và bảy loại năng lượng cơ bản mà chúng ta liên tục tiếp nhận qua bảy luân xa nền tảng thuộc cấu trúc vi tế bên trong con người.

Trong đời sống hằng ngày, sẽ không dễ để hiểu biết chính mình nếu chúng ta không vận dụng năng lực quan sát bản thân. Năng lực ấy chính là khả năng của tâm thức tự phân chia thành người quan sát và đối tượng được quan sát. Đối tượng được quan sát là những phản ứng tâm lý của chúng ta; còn người quan sát là tâm thức.

Quan sát bản thân qua các giác quan thông thường là điều tương đối dễ. Nhưng việc quan sát những diễn biến tâm lý của chính mình một cách toàn diện, ở mọi tầng mức của tâm trí, thì khó hơn nhiều. Điều đó đòi hỏi một quá trình học hỏi có phương pháp, có trật tự và tiệm tiến, trong đó tâm trí, cảm xúc cao cấp và tâm thức cùng phối hợp với nhau.

Chắc chắn, sự khác biệt giữa tâm giác quan và nội tâm bên trong nằm ở cảm xúc cao cấp. Như chúng ta đã nói, cảm xúc ấy là mắt xích nối liền phần bên ngoài và phần bên trong của đời sống.

Những gì chúng ta biết về đời sống bên ngoài đều đến qua các giác quan và tâm trí. Còn những gì chúng ta có thể biết về đời sống nội tâm sẽ phụ thuộc vào các giác quan bên trong của tâm thức — tức các luân xa — và vào nội tâm. Điều này không có gì đáng nghi ngờ, bởi cũng như có các giác quan để tri giác thế giới bên ngoài, thì cũng có các giác quan để tri giác thế giới bên trong.

Phần bên ngoài của tâm trí là phần rời xa tâm thức; còn nội tâm là phần dần dần tiến gần đến Phật tính, tức tâm thức của vạn vật.

Cũng như thế giới bên ngoài đòi hỏi nơi chúng ta một mức độ chú ý hay tập trung nhất định, các thế giới nội tại cũng đòi hỏi một mức độ tập trung tương ứng. Mức độ ấy có thể tăng lên dần dần, tùy theo khả năng của mỗi người.

Trong các bài giảng của thầy Samael Aun Weor, có một đoạn nói rất rõ về điều này:

“Cũng như sự sống biểu hiện qua một tiến trình hướng ngoại dần dần, ngày càng trọn vẹn hơn, thì cái chết của cái tôi — tức phần thú tính — cũng là một tiến trình nội tâm hóa tiệm tiến. Trong tiến trình ấy, tâm thức cá nhân, hay Phật tính thuần khiết, từ từ trút bỏ những lớp áo vô dụng của mình, giống như Ishtar4 và hành trình đi xuống cõi âm, cho đến khi hoàn toàn trần trụi và tự thức tỉnh trước Thực tại Vĩ đại của sự sống tự do trong vận động của chính nó.”

Một minh họa hiện đại về cuộc đi xuống cõi âm của Inanna-Ishtar, trích từ tác phẩm Myths and Legends of Babylonia and Assyria của Lewis Spence, xuất bản năm 1916.

Nội tâm là kết quả của sự rung động giữa tâm trí và phương diện cảm xúc của nó. Nhiều người sẽ ngạc nhiên trước ý tưởng rằng tâm trí cũng có cảm xúc, trong khi họ lại dễ dàng xem sự trì độn của tâm trí là điều bình thường. Cần biết rằng có những cảm xúc hạ cấp thấp và cảm xúc cao cấp; và bản chất của cảm xúc là một dạng năng lượng gắn liền với hành động và ý chí.

Ở phần đầu của tài liệu này, chúng tôi đã giải thích rằng trong cơ thể của sinh vật hai chân ba não có nhiều loại năng lượng lưu chuyển, về cơ bản là bảy loại. Mỗi loại năng lượng có trọng tâm ở một trung tâm của cỗ máy cơ thể con người, đồng thời có mối liên hệ mật thiết với bảy trung tâm chuyển hóa năng lượng, hay các luân xa. Do đó, chúng ta là một cơ thể mang tính năng lượng. Trong cơ thể ấy, các loại năng lượng và những phân loại của chúng liên hệ với nhau một cách hài hòa, nhưng vẫn giữ chức năng riêng. Giờ đây, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa tâm trí và cảm xúc. Mối quan hệ ấy có thể hình thành nhờ tác động của tâm thức. Tâm thức vốn có sẵn, ở trạng thái nguyên sơ, trong mọi loại năng lượng; điều phân biệt nó với các năng lượng khác chính là cấp độ rung động rất cao của nó.

Sự tập trung vào nội tâm của đời sống tâm lý chúng ta, với sự trợ giúp của trí tưởng tượng, là giai đoạn đầu tiên để bắt đầu khai mở tâm trí nội tại.

Bước thứ hai là thiền quán chiếu về đối tượng thiền ở bên trong. Đối tượng của sự tập trung cần được xem xét từng phần, từng lớp, cho đến khi ta hiểu được nguồn gốc và bản tính của nó. Khi đã hiểu được bản tính ấy, chúng ta sẽ đồng nhất mình sâu hơn với bản chất của đối tượng, và nhờ vậy có thể nhanh chóng bước sang giai đoạn thứ ba: lòng tôn thờ tối thượng.

Trong sự quán chiếu thanh thản của tâm trí, khi hướng vào bên trong của một điều vốn luôn tưởng như ở bên ngoài, chúng ta thâm nhập vào trạng thái được gọi là lòng tôn thờ tối thượng — giai đoạn cuối cùng của thực hành quay vào bên trong. Khi ấy, ta hiểu rằng trong mọi sự đều có khởi đầu và kết thúc; rằng vượt ra ngoài khởi đầu và kết thúc ấy, tâm thức nơi mọi sự vẫn đẹp đẽ bất biến. Tâm thức ấy trở nên phong phú hơn khi lặng ngắm chính mình trong muôn hình vạn trạng của thế giới hình tướng, trong tấm gương mênh mông của tạo hóa.

Khi thấu hiểu chính mình, ta cũng bắt đầu thấu hiểu sự vật. Sự thấu hiểu ấy đánh thức trong ta niềm phúc lạc của một cảm xúc cao cấp. Nhờ có cùng tần số rung động, cảm xúc cao cấp ấy kết nối ta với tâm thức; và chính tâm thức giúp ta nhận ra chân lý sâu xa của điều đã được thấy và hiểu.

Tập trung sâu, thiền sâu sắc và lòng tôn thờ tối thượng là ba bước căn bản để khai mở nội tâm. Khi nội tâm được khai mở, chúng ta có thể nghiên cứu chủ đề gọi là Tâm lý học về các luân xa và con đường Gnosis trong nội tâm.

Trước khi bắt đầu nghiên cứu một cách có hệ thống từng luân xa trong bảy luân xa, chúng ta sẽ tìm hiểu một số khái niệm cơ bản. Người phương Đông xem prana như khí lực nền tảng của vạn vật. Khi hiểu về các luân xa, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn bản chất của những trung tâm năng lượng này, cũng như cách chúng chuyển hóa năng lượng.

7. Các luân xa

Trong chương V của cuốn sách này, chúng ta đã nói rằng có bảy trung tâm năng lượng dùng để chuyển hóa năng lượng sống, tức prana. Tuy nhiên, Gnosis cũng cung cấp thông tin về các trung tâm năng lượng khác, không kém phần quan trọng. Chức năng của các trung tâm ấy cũng là nuôi dưỡng sinh lực hữu cơ và tạo điều kiện để tâm thức biểu hiện trong các chiều không gian khác của vũ trụ.

Các luân xa vận hành như những xoáy năng lượng; qua đó, prana đi vào cơ thể. Nhưng prana là gì? Theo cách gọi của Đông phương, prana là một lực căn bản của tạo hóa. Nếu Thượng Đế được xem là quyền năng thứ bảy của vũ trụ, thì prana là lực thứ sáu, gần gũi với sự sống đang vận hành trong muôn loài. Vì vậy, prana còn được gọi là Hơi Thở của Thượng Đế; chính nhờ có prana mà sự sống được duy trì và biểu hiện trong cơ thể…

Prana là năng lượng vĩ đại. Prana là rung động, chuyển động điện, ánh sáng và nhiệt, từ tính vũ trụ, là sự sống. Prana là sự sống đang đập trong từng nguyên tử và trong từng Mặt Trời.

Prana có liên hệ mật thiết với tâm trí; thông qua tâm trí, nó nối kết với ý chí và linh hồn cá nhân; và thông qua linh hồn cá nhân, nối kết với Đấng Tối Cao.

Prana là tổng thể những lực tiềm tàng, ẩn giấu trong con người và có ở khắp nơi.

Trái tim là nơi trú ngụ của prana. Nói đúng ra, chỉ có một prana duy nhất, nhưng prana ấy đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau.

Trong một tác phẩm của mình, nhà văn thông thái Waldemar đã viết: “Prana, lực căn bản thứ sáu, không chỉ tác động trong con người, mà còn là nguyên lý sự sống của mọi hữu thể trong vũ trụ.”

Trong tâm linh học Gnosis, prana mang nguyên lý Kitô. Khi suy ngẫm về lực thứ sáu của vũ trụ, Hơi Thở của Thượng Đế, chúng ta sẽ hiểu được lời khẳng định này. Đấng Kitô của Vũ trụ chính là Ngôi Lời Thái Dương, và năng lượng thái dương đến từ Ngài. Nguyên lý Kitô trong prana làm cho bông lúa mì lớn lên; trong hạt lúa, chất Kitô ấy được giữ kín, sẵn sàng để con người tiếp nhận qua thức ăn.

Sau khi đã hiểu được giá trị đích thực của prana như một dưỡng chất sinh lực và tâm linh, chúng ta hãy tiếp tục phần giải thích về các luân xa.

Trong lĩnh vực tâm linh và huyền học, có rất nhiều tài liệu nói về luân xa. Chúng được mô tả bằng nhiều hình ảnh khác nhau: xoáy năng lượng, hoa sen, nhà thờ, bông hoa, hay các trung tâm năng lượng nằm dọc theo cột sống. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là tìm ra cách ứng dụng chúng vào thực hành, sao cho những học trò đang trên con đường tìm hiểu bản thân có thể tiếp cận và vận dụng được.

Swami Sivananda5 cho chúng ta biết như sau: “Các luân xa nằm trong cơ thể cảm xúc, ngay cả sau khi chết. Tất cả chúng đều có những trung tâm tương ứng trong tủy sống và trong các đám rối thần kinh của cơ thể vật chất. Mỗi luân xa kiểm soát và thực hiện chức năng của mình đối với một trung tâm cụ thể trong cơ thể vật chất.”

Theo truyền thống Yoga, Raja Yoga — còn được gọi là Yoga Hoàng Gia hay vua của các loại yoga — được xem là con đường tổng hợp tinh hoa của mọi trường phái yoga. Raja Yoga trình bày một hệ thống giáo lý hoàn chỉnh, cả về lý thuyết lẫn thực hành, nhằm phát triển tích cực các luân xa, tức những trung tâm hay bánh xe khí lực. Con đường này gồm tám bậc: Yama, Niyama, Âsana, Prânâyâma, Pratyâhâra, Dhâranâ, Dhyâna và Samâdhi6. Nhờ đó, hành giả có thể từng bước quay vào nội tâm và hoàn thành trọn vẹn tiến trình tự nhận thức.

Về một trong những cuốn sách được biết đến nhiều nhất ở phương Tây về các luân xa, bậc thầy C. W. Leadbeater viết:

“Các luân xa, hay các trung tâm lực, là những giao điểm mà qua đó năng lượng chuyển từ thể này sang thể khác trong con người. Người có khả năng thấu thị có thể dễ dàng nhìn thấy chúng trong thể khí lực. Trên bề mặt của thể này, chúng hiện ra như những vùng lõm nông hình đĩa, hoặc như những xoáy lực. Khi phát triển đầy đủ, chúng có dạng những vòng tròn đường kính khoảng năm xăng-ti-mét. Ở người bình thường, chúng chỉ tỏa sáng lờ mờ; nhưng khi được kích hoạt mạnh, chúng mở rộng ra và hiện lên như những cơn lốc ánh sáng rực rỡ, lấp lánh như những mặt trời nhỏ.”

Chang-Chen-Chi, tác giả cuốn Thực hành Thiền Tông, trong một số đoạn bàn về sự tập trung vào các luân xa, đã viết như sau:

“Việc tập trung sự chú ý vào một đối tượng trước mặt thường kém hiệu quả hơn việc đặt tâm trí vào một điểm nhất định bên trong cơ thể. Khi sự chú ý được cố định vào bất kỳ điểm nào trong cơ thể, nó có thể tạo ra những kết quả phi thường, đôi khi rất kỳ diệu. Việc tập trung vào những trung tâm trong cơ thể có thể dẫn đến các kinh nghiệm tâm linh khác nhau. Chẳng hạn, tập trung vào điểm giữa hai lông mày có thể đưa đến kinh nghiệm về ánh sáng; tập trung vào vùng rốn có thể đưa đến kinh nghiệm về phúc lạc. Khi sự tập trung được đặt nơi trung tâm trái tim, các lực dương và âm trong cơ thể sẽ nhanh chóng hợp nhất; theo thời gian, điều đó có thể đưa đến Tính Không Chiếu Rọi, hay kinh nghiệm về Tính Không phúc lạc. Những người theo Tantra cho rằng mỗi trung tâm chính trong bảy trung tâm của cơ thể, tức các luân xa, đều có chức năng đặc biệt và những cách ứng dụng riêng.”

Haris Johari, tác giả cuốn Luân xa: các trung tâm năng lượng của sự chuyển hóa, viết:

“Các luân xa là những trung tâm tâm linh trong cơ thể, luôn hoạt động trong từng khoảnh khắc, dù chúng ta có ý thức được điều đó hay không. Năng lượng đi qua các luân xa và tạo nên những trạng thái tâm lý khác nhau. Sinh học hiện đại giải thích hiện tượng này như những biến đổi hóa học do các tuyến nội tiết tạo ra…”

Tất cả các tác giả này đều đã viết nên những chuyên luận thực sự. Tuy nhiên, rất ít người chỉ cho chúng ta một kỹ thuật thực hành đơn giản để đi sâu vào các giác quan của sự cảm nhận nội tâm, và từ đó học cách tự hiểu biết, tự giáo dục chính mình.

Nếu xem việc nghiên cứu các luân xa theo ba cấp độ của các trường phái Hermetic — người học việc, người thực hành và bậc thầy — thì ở cấp độ người học việc, chúng ta có thể bắt đầu bằng việc nghiên cứu tâm lý về các trung tâm này. Chính ở điểm ấy, tác phẩm nhỏ bé này hy vọng hoàn thành mục tiêu của mình. Sự thanh lọc chính là bậc thang đầu tiên của tri thức siêu việt.

Sau thanh lọc là sự khai sáng. Tuy nhiên, sự khai sáng không thể xuất hiện nếu không có sự thanh lọc, tức sự chuyển hóa tâm lý. Nó là kết quả của những công việc được thực hiện đồng thời với quá trình thanh lọc nội tâm. Muốn đạt đến điều ấy, cần thấu hiểu những giá trị đích thực của Bản thể Nội tại, bởi rèn luyện trên chính mình luôn khởi đầu từ tâm thức của Bản thể Nội tại.

Phần thứ hai của cuốn sách này sẽ đi vào phân tích giáo lý Gnosis và dẫn chúng ta đến một triết lý hướng nội. Nhờ đó, chúng ta có thể xác định trật tự giảng dạy cần theo để hiện thực hóa, hay kết tinh, các giá trị của Bản thể trong hồn. Về sự khai sáng, có thể nói rằng tâm thức có nhiều cấp độ. Thông qua điểm đạo tâm linh, tâm thức có thể tiến lên cấp độ Hermetic của người thực đồng hành. Người được khai sáng là người đã thắp sáng bảy ngọn đèn nội tâm của mình; nói cách khác, bảy giáo hội bên trong người ấy đã được soi sáng.
Trong tác phẩm huyền học Những Chìa Khóa của Vương Quốc Nội Tại, Tiến sĩ Jorge Adoum, còn gọi là Mago Jefa, viết:

“Mục đích của điểm đạo là phát triển bảy trung tâm khí lực, được gọi là bảy thánh đường hay bảy thiên thần. Thông qua lòng mong mỏi, thực hành hít thở và tập trung, điểm đạo đồ có thể tạo ra một khoảng rỗng trong cột sống, để năng lượng sáng tạo dần dần mở niêm bảy ấn của sách Khải Huyền theo Thánh Gioan7, cho đến khi thân thể người ấy trở thành Thành Thánh từ trời giáng xuống.”

“Chiên Con với bảy mắt và bảy sừng mở cuốn sách bảy ấn”, ảnh minh họa từ sách Flemish Apocalypse, k. 1400-1410.

Thân thể con người chính là cuốn sách đích thực mà Thánh Gioan đã nói đến, dù nó không có trang giấy, cũng không có những dòng chữ viết bằng mực. Trong cuốn sách sống động ấy, những điều thuộc quá khứ, hiện tại và tương lai đều được ghi lại. Sách Bảy Ấn chính là thân thể con người; và điểm đạo đồ là người phải mở bảy ấn ấy trong cột sống của chính mình.”

Quy trình luyện kim đan nội tâm, nhằm chuyển hóa chì của tính cách thành vàng của tinh thần, thuộc về một chuyên luận khác. Tạm thời, chúng ta chỉ nói rằng Con Chiên của Kitô giáo chính là Kundalini của Ấn Độ giáo, và năng lực ấy nằm tiềm ẩn trong năng lượng sáng tạo.

Đến phần này của chương, chúng ta có thể phân biệt rõ sự khác nhau giữa người học việc và người thực hành trên con đường này. Ở cấp độ thứ nhất, chúng ta gặp những giáo lý sơ đẳng; ở cấp độ thứ hai, chúng ta bước vào các trường phái Gnosis về tái sinh, với một tri thức rõ ràng về huyền học Ki-tô–Phật giáo. Từ những trường phái ấy đã xuất hiện các bậc thầy vĩ đại của nhân loại — những con người hoàn thiện trong Bản thể và trong tri thức. Và như vậy, ba cấp độ của Hermetism được hoàn tất: thanh lọc, khai sáng và hoàn thiện; người học việc, người thực hành và bậc thầy.

Độc giả thân mến, đây là giáo lý thuộc bước đầu tiên. Hãy luôn ghi nhớ sự tập trung không lay chuyển, thực hành thiền sâu sắc, và lòng tôn kính tối thượng đối với tất cả những gì đang rung động trong tình yêu và trí tuệ của Thượng Đế.


Mūlādhāra

  • Ý nghĩa tên gọi: Nền tảng, gốc.
  • Vị trí: Đám rối xương cụt hoặc vùng chậu; vùng giữa hậu môn và cơ quan sinh dục; đáy cột sống; ba đốt sống đầu tiên.
  • Nguyên tố: Đất.
  • Phương diện: Thức ăn và nơi ở.
  • Giác quan chủ đạo: Khứu giác.
  • Cơ quan cảm giác: Mũi.
  • Âm căn bản: “S” — sssss…
  • Thần chú: DIS, DAS, DOS.
  • Số cánh: Bốn.
  • Liên hệ với cỗ máy con người: Trung tâm bản năng.
  • Hình dạng của nguyên tố: Hình vuông.
  • Khuyết điểm tâm lý chủ đạo: Lòng tham.
  • Suy ngẫm: “Sống trong trạng thái nhớ đến Bản Thể thì tốt hơn là chỉ tồn tại.”

Điều làm nên sự sống trong cuộc đời này là những ấn tượng, cảm giác và tri giác mà nó mang đến; nếu không có chúng, cuộc sống sẽ chỉ còn là cái chết. Nhưng sống không phải là tất cả. Vẫn còn một điều gì đó vượt lên trên đời sống hữu hạn này. Vì thế, xem cuộc sống như mục đích cuối cùng là điều phi lý. Thật ra, cuộc sống chỉ là một phương tiện giúp ta thấu hiểu toàn thể sự tồn tại — điều vẫn tiếp diễn ngay cả khi cuộc sống này đã chấm dứt.

Từ khởi nguyên, Phật tính vốn thuộc về vũ trụ, mang bản chất thiêng liêng và hạnh phúc. Nhưng chưa ý thức được sự trong sáng và hạnh phúc vốn có của chính mình. Đạt đến trạng thái nhớ bản thân là khát vọng sâu xa nhất của Phật tính; và vì điều đó, trái đất trở thành thử thách đầu tiên của nó.

“Trung tâm năng lượng Mūlādhāra”, hay luân xa gốc, tượng trưng cho Mẹ Trái Đất — nơi tiếp nhận Phật tính nguyên sơ. Từ đây, Phật tính ấy sẽ khoác lên mình những lớp áo mà Mẹ Trái Đất trao cho nó qua các giới khoáng vật, thực vật, động vật và nhân loại; tất cả đều nằm dưới ảnh hưởng vũ trụ của tử cung hoàng đạo vĩ đại ấy.

Phật tính sẽ học cách chiêm ngưỡng chính mình trong chiều sâu của thế giới vật chất và đời sống con người, nơi mọi hình tướng đều bị điều kiện hóa và chỉ tồn tại thoáng qua. Từ những cảm giác mới lạ, nó hình thành ký ức, nhờ đó biết thêm về chính mình và về mối tương quan của mình với vũ trụ. Nhưng Phật tính cũng có thể bị trói buộc bởi chính hiểu biết ấy. Đây là cái giá tất yếu phải trả, vì không có con đường nào khác. Trải nghiệm trần thế đánh thức trong con người những năng lực tiềm ẩn; và đó chính là ý nghĩa của “ý thức về bản thân”, hay “tri thức về bản thân”.

Nguyên tố Đất là khởi đầu và cũng là kết thúc của một con đường; nó có thể là nơi để thanh thản chờ đợi, nhưng cũng có thể trở thành một chiến trường thường trực. Vì thế, trung tâm năng lượng này bao hàm những bình diện của sự khởi sinh, ảo tưởng, phẫn nộ, tham lam, lừa dối, keo kiệt, nhục cảm, thiếu kiên nhẫn, v.v. Đồng thời, từ đó cũng có thể vươn lên những bình diện cao hơn của ánh sáng, sự thức tỉnh, sự thanh thản và dịu dàng, tinh thần hợp tác, sự chân thành, tâm linh, v.v.

Luân xa Mūlādhāra biểu trưng cho sự biểu hiện của tâm thức cá nhân trong hình hài con người, tức sự ra đời trong cơ thể vật chất. Nếu một người, với hàm răng nghiến chặt và nắm tay siết lại, khước từ việc sống theo những quy luật tự nhiên chi phối cơ thể mình, người ấy sẽ tạo nghiệp, hay một sự vướng mắc trong thế gian. Khi ấy, các cơ quan giác quan và hành động của họ chỉ đem lại hỗn loạn và đau đớn, đổi lấy những thỏa mãn tạm thời. Nhưng khi bắt đầu hành động hài hòa với các quy luật tự nhiên, họ sẽ không còn phung phí năng lượng, cũng không làm ô nhiễm tâm thức cảm quan của mình bằng sự buông thả quá độ. Họ sẽ hành động một cách sáng suốt và điều độ.

Khi các luân xa được đánh thức thông qua kỷ luật nội tâm, những phẩm chất tâm linh trong con người sẽ ngày càng phát triển.

Nguồn ảnh: MS Sanskrit 391. Tác giả: Svami Hamsasvarupa, những năm 1900. Wellcome Collection.

Thực hành: thiền về luân xa Mūlādhāra

Các đặc tính của thế giới sẽ thay đổi khi bộ máy tâm linh của con người thay đổi. Khi các luân xa phát triển, thế giới cũng thay đổi trong cái nhìn của điểm đạo đồ. Cùng với sự phát triển ấy, chúng ta dần loại bỏ khỏi tâm trí những yếu tố chủ quan của tri giác. Cái chủ quan là cái không có thực tại; cái khách quan là cái thuộc về tâm linh, là cái chân thực.

— Samael Aun Weor

Khi nhập định và tập trung vào luân xa Mūlādhāra, hay luân xa gốc, ta cần phối hợp nhiều yếu tố: sự tĩnh lặng của tâm trí để có thể tập trung; trí tưởng tượng để hình dung mối tương quan giữa Mẹ Trái Đất và luân xa; cùng sự suy ngẫm nội tâm để nghiên cứu và thấu hiểu tâm lý học của nguyên tố Đất.

Theo lý thuyết căn bản về tâm trí và prana, nếu một người có thể kiểm soát hơi thở, thì người ấy cũng có thể kiểm soát tâm trí.

Trí tưởng tượng có hai cực: tiếp nhận và phóng chiếu. Một bên là khả năng tiếp nhận hình ảnh; bên kia là khả năng phóng chiếu những hình ảnh do chính tâm trí tạo ra. Chỉ khi tâm trí tĩnh lặng, ta mới có thể phân biệt rõ hai cực ấy.

Thịt và xương tượng trưng cho đất triết học trong con người chúng ta; trong tự nhiên, chúng tương ứng với cát biển, đá, đá tảng, núi non, dãy núi, lục địa, v.v.

Luân xa gốc liên quan đến nền tảng của vũ trụ vật lý và sự hiểu biết về chiều không gian vật lý. Vì vậy, về mặt tâm lý, chúng ta cần quan sát cách mình suy nghĩ, cảm nhận và hành động trước những cảm giác mà đời sống vật chất đem lại.

Tham lam, sợ hãi, lừa dối, nhục dục, thiếu kiên nhẫn, lười biếng, phàm ăn, v.v., đều là một phần trong bản chất tâm lý của luân xa này. Về bài thử thách tâm linh của nguyên tố đất, Thầy Samael nói:

“Chúng ta phải học cách tận dụng những nghịch cảnh tồi tệ nhất, bởi chính những nghịch cảnh ấy mang đến cho ta những cơ hội tốt nhất. Chúng ta phải học cách mỉm cười trước nghịch cảnh; đó là quy luật. Ai bị đau khổ khuất phục trước những nghịch cảnh của cuộc sống thì không thể chiến thắng trong thử thách đất. Trong các cõi giới siêu việt, ứng viên thấy mình đứng giữa hai ngọn núi khổng lồ đang khép lại đầy đe dọa. Nếu hét lên vì kinh hoàng, người ấy sẽ trở về cơ thể vật chất trong thất bại. Nhưng nếu giữ được sự bình thản, người ấy sẽ chiến thắng thoát ra và được đón tiếp trong sảnh đường trẻ thơ bằng một lễ hội lớn, với niềm vui bất tận.”

Chỉ khi thấu hiểu năm loại cảm giác cơ bản, chúng ta mới có thể chuyển hóa ham muốn đặc thù của trung tâm này. Năm loại cảm giác ấy là: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Trong khi suy ngẫm, hãy ngân âm chữ cái căn bản của trung tâm này: Sssssss…


Svādhiṣṭhāna

  • Ý nghĩa tên gọi: “Nơi cư ngụ của Bản Thể”.
  • Vị trí: Đám rối tuyến tiền liệt hoặc buồng trứng; cơ quan sinh dục.
  • Nguyên tố: Nước.
  • Phương diện: Sinh sản, gia đình, giao tiếp và huyễn tưởng. Nguyên tố đất của luân xa Mūlādhāra tan hòa trong nguyên tố nước của luân xa Svādhiṣṭhāna. Nguồn cảm hứng sáng tạo bắt đầu từ luân xa này.
  • Giác quan chủ đạo: Vị giác.
  • Cơ quan cảm giác: Lưỡi.
  • Âm căn bản: “M” — mmmmm…
  • Thần chú: BHUVAR.
  • Số cánh: Sáu.
  • Liên hệ với cỗ máy con người: Trung tâm tính dục.
  • Hình dạng của nguyên tố: Hình tròn.
  • Khuyết điểm tâm lý chủ đạo: Dục vọng.
  • Suy ngẫm: “Lời nói cũng là một biểu hiện của năng lượng tính dục sáng tạo.”

Ở phụ nữ, các tuyến sinh dục gồm buồng trứng, ngực và tử cung; ở nam giới, gồm tinh hoàn, dương vật và tuyến tiền liệt.
Đây là tuyến sinh sản, còn gọi là tuyến nội tiết sinh dục — nơi con người có thể tìm thấy sự cứu rỗi hoặc sự đọa đày của chính mình.

— Samael Aun Weor

Luân xa Svādhiṣṭhāna là trung tâm sinh sản và có liên hệ trực tiếp với Mặt Trăng. Rõ ràng, Mặt Trăng giữ một vai trò rất lớn trong cơ cấu hữu cơ của hành tinh Trái Đất. Chúng ta đều biết ảnh hưởng của nó đối với sự lên xuống của thủy triều.

Nguyên tố Nước là tinh chất của sự sống. Ba phần tư bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi nước, và khoảng ba phần tư trọng lượng cơ thể con người cũng là nước. Mặt Trăng tác động đến con người dưới dạng những “thủy triều cảm xúc”. Ở phụ nữ, chu kỳ hằng tháng cũng có sự tương ứng với chu kỳ của Mặt Trăng.

Trong các tuyến sinh dục của chúng ta có biển của sự sống. Trong dòng nước tinh ấy ẩn chứa huyền nhiệm của sự sống. Tinh là nước tinh khiết của sự sống, là nước của mọi loài, là nước của khởi nguyên. Nguyên liệu sơ khai của Đại Công Trình chính là tinh đã được Kitô-hóa.

Những vùng nước của Sáng Thế được cai quản bởi những tia sáng của Mặt Trăng và bởi các thần cai quản tinh linh nước.

Ai uống thứ nước của sự sống vĩnh cửu ấy sẽ không bao giờ còn khát; và từ lòng người ấy, những dòng nước tinh khiết sẽ tuôn chảy.

Nguyên tố nước mang đặc tính của giao tiếp và sáng tạo; còn nguyên tố đất là nền tảng, là cơ sở cho mọi sự vận động.

Luân xa thứ hai này cho chúng ta khả năng điều hướng năng lượng sáng tạo, cả trên phương diện thể chất lẫn tâm lý. Nhờ đó, ta có thể thiết lập mối liên hệ với thân thể hành tinh — tức cơ thể vật chất; với hành tinh Trái Đất — tức thế giới bên ngoài; và với chính mình — tức tâm thức.

Thật đáng tiếc, trung tâm năng lượng này thường bị tâm trí và cái tôi-thú tính chi phối qua sự phóng đãng của dục vọng, lòng ghen tuông chiếm hữu, nọc độc của đố kỵ, cảm giác tội lỗi, và nói chung là mọi dạng lệch lạc bản năng. Chính những điều ấy ngăn cản chúng ta giao tiếp với ba thế giới của các mối quan hệ.

Nguồn ảnh: MS Sanskrit 391, do Svami Hamsasvarupa thực hiện vào những năm 1900. Wellcome Collection.

Thực hành: thiền về luân xa Svādhiṣṭhāna

Rõ ràng là chúng ta cần học cách thiết lập đúng đắn các mối quan hệ: với thân thể hành tinh của mình, tức cơ thể vật chất; với thế giới bên ngoài; và với từng phần của Bản thể nơi chính mình.

— Samael Aun Weor

Khi nhập định và tập trung vào luân xa Svādhiṣṭhāna, chúng ta tái lập sự kết nối với dòng chảy của sự sống. Đồng thời, ta học cách khước từ sự chia tách trong tâm trí và cảm xúc, vì chính sự chia tách ấy có thể tác động sâu sắc đến các trung tâm năng lượng chuyển hóa.

Sự thiếu sáng tạo bắt nguồn từ sự kết nối không hài hòa với ba thế giới của các mối quan hệ. Về điều này, chúng ta có thể suy ngẫm lời dạy sau đây của Thầy Samael:

Thế giới của các mối quan hệ bao gồm ba khía cạnh rất khác nhau; mỗi khía cạnh cần được làm sáng tỏ một cách chính xác.
Thứ nhất là mối quan hệ với cơ thể hành tinh của mình, tức cơ thể vật chất.
Thứ hai là mối quan hệ với hành tinh Trái Đất, nơi chúng ta đang sống. Từ đó, một cách tự nhiên, chúng ta có mối quan hệ với thế giới bên ngoài và với những vấn đề liên quan đến mình: gia đình, kinh doanh, tiền bạc, nghề nghiệp, chuyên môn, chính trị, v.v.
Thứ ba là mối quan hệ của con người với chính mình. Với phần lớn mọi người, mối quan hệ này gần như không được xem là quan trọng.

— Tâm lý học cho sự thay đổi triệt để

Cũng như luân xa Mūlādhāra liên hệ với khứu giác, luân xa Svādhiṣṭhāna tương ứng với vị giác, và cơ quan cảm giác của nó là lưỡi. Vì thế, có một mối liên hệ mật thiết giữa các tuyến sinh dục và thanh quản sáng tạo; qua cổ họng và lưỡi, lời nói được thụ tinh và thai nghén, trở thành phương tiện căn bản của sự kết nối.

Khi một đứa trẻ bước vào khoảng mười bốn tuổi, giọng nói của em bắt đầu đổi, dần trở thành giọng của một người đàn ông. Sự thay đổi ấy là kết quả của việc các tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động.

Thiền về luân xa này là trở nên ý thức, nhận ra và thấu hiểu tầm quan trọng của thế giới kết nối. Để làm được điều đó, chúng ta phải khám phá những giới hạn của chính mình và nỗ lực vượt qua các ham muốn thấp kém, để chúng được chuyển hóa thành những khát vọng mở rộng tâm thức.

Cũng như cơ thể vật chất là phương tiện để tâm thức biểu hiện, tâm thức cũng là phương tiện để Bản thể bên trong biểu hiện. Vì vậy, những mối quan hệ đích thực phải bắt đầu từ chính mình — từ mối quan hệ với Bản thể.

Nếu thiếu loại quan hệ thứ ba — mối quan hệ của con người với chính mình — thì không thể có sự hài hòa với những khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Bản thể là yếu tố bất biến của tri thức đích thực; vì vậy, không bao giờ được loại trừ Bản thể khỏi việc hiểu biết chính mình.

Trong khi thực hành với luân xa này, hãy tưởng tượng cơ thể vật chất được nối thông bởi một mạng lưới vô tận các ống dẫn năng lượng, gọi là nadis. Mạng lưới ấy giống như những dòng sông, hồ, biển và đại dương, kết nối và phân phối tinh chất sống của luân xa Svādhiṣṭhāna. Sau đó, hãy tưởng tượng năng lượng sống bắt đầu liên hệ với thế giới bên ngoài: từ bên trong đi ra bên ngoài, rồi từ bên ngoài trở về Bản thể nội tâm của chúng ta. Dòng chảy ấy ra vào liên tục, giống như hai chuyển động ly tâm và hướng tâm.

Khi chúng ta không biết kết nối chân thật, chỉ bắt chước người khác vì sợ hãi, hoặc bị ham muốn dẫn dắt mà không có tình yêu, chức năng của luân xa Svādhiṣṭhāna sẽ bị cản trở. Điều đó giống như làm gián đoạn chu trình nước bên trong chính mình, khiến ta tự làm ô nhiễm mình và làm mất cân bằng hệ sinh thái nội tại. Vì vậy, ý thức được những điều này là một hình thức thanh lọc rất đặc biệt. Theo nghĩa rộng hơn, sự thanh lọc ấy cũng sẽ tác động đến tổng thể mà chúng ta là một phần trong đó.

Chữ M là âm căn bản của trung tâm năng lượng này. Khi xướng âm M — mmmmm… — phần năng lượng đang tù đọng được rung động và nhờ đó có thể lưu chuyển trở lại. Để phân biệt và tách phần năng lượng tinh tế ra khỏi phần năng lượng đã bị dục vọng ích kỷ làm cho tích tụ và nặng đặc, chúng ta cần suy ngẫm, phân định và thấu hiểu sự khác biệt giữa hai trạng thái: sống như một phần hợp nhất của cái Tuyệt đối, và tồn tại một cách tương đối, tách biệt khỏi hệ thống vũ trụ vĩ đại này.

Kết thúc phần tìm hiểu tâm lý và luân xa thứ hai, chúng ta cần nói rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa luân xa Svādhiṣṭhāna và thử thách điểm đạo của nguyên tố nước:

“Thử thách lớn của nước thật sự khủng khiếp. Ứng viên bị ném xuống đại dương và có cảm giác như mình sắp chết đuối. Những ai không biết thích nghi với các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống; những ai không biết sống giữa người nghèo; những ai, sau khi bị đắm tàu giữa đại dương cuộc đời, lại khước từ cuộc đấu tranh và thà chết hơn là tiếp tục tiến bước — những người yếu đuối ấy tất yếu sẽ thất bại trong thử thách của nước. Còn những người chiến thắng sẽ được đón nhận trong sảnh đường trẻ thơ, tức sảnh đường của các điểm đạo đồ, bằng những lễ hội vĩ đại.”

— Samael Aun Weor

Maṇipūra

  • Ý nghĩa tên gọi: “Thành phố của những viên ngọc”.
  • Vị trí: Đám rối dương; rốn.
  • Nguyên tố: Lửa.
  • Phương diện: Tính cách, hình dạng, thị giác, màu sắc.
  • Giác quan chủ đạo: Thị giác.
  • Cơ quan cảm giác: Mắt.
  • Âm căn bản: “U” — uuuuu…
  • Thần chú: RAM.
  • Số cánh: Mười.
  • Liên hệ với cỗ máy con người: Trung tâm cảm xúc hạ cấp.
  • Hình dạng của nguyên tố: Hình tam giác.
  • Khuyết điểm tâm lý chủ đạo: Sân giận hoặc phẫn nộ.
  • Suy ngẫm: “Cần biết kiên nhẫn; cần biết thanh thản.”

Đám rối dương là luân xa thứ ba, nơi ngự trị của lửa trong cơ thể. Biểu tượng của luân xa này là tam giác ngược: ngọn lửa đi xuống, có khả năng biến đổi hoặc thiêu nuốt mọi thứ. Về mặt thể chất, nó giữ vai trò thiết yếu trong việc tiêu hóa và đồng hóa thức ăn, nhằm cung cấp cho cơ thể ở cấp độ tế bào nguồn năng lượng cần thiết để sinh tồn.

Trên phương diện tâm lý, trung tâm thứ ba chính là bộ não của cảm xúc. Về điều này, Thầy Samael nói như sau:

“Trong cơ thể con người có một trạm vô tuyến thực sự. Trung tâm tiếp nhận của trạm ấy là vùng rốn, hay bộ não của cảm xúc. Từ đó, các ấn tượng được truyền lên não, nơi chúng trở thành những ý nghĩ mà ta có thể nhận biết một cách có ý thức.”

Để hiểu rõ hơn những điều đã trình bày ở trên, hãy quan sát thật kỹ các phản ứng của đám rối rốn đối với những ấn tượng đi vào qua giác quan, đặc biệt là ấn tượng thị giác. Có thể khẳng định rằng, ở một mức độ rất lớn, tính cách con người có nền tảng quan trọng nhất tại trung tâm này, bởi về bản chất, tính cách thuộc về phần bên ngoài, phần bề mặt của con người.

Chúng ta có cơ hội chuyển hóa một cách hoàn toàn chủ động những ấn tượng đi đến đám rối dương. Nói cách khác, ta có thể đưa đời sống từ bên ngoài vào bên trong, cho đến khi đời sống ấy được kết tinh ở một cấp độ cao hơn trong hồn.

Bây giờ, chúng ta hãy nghiên cứu sâu hơn trung tâm năng lượng chuyển hóa này. Trong tất cả các đám rối, đám rối rốn là lớn nhất; vì vậy, nơi đây cũng có sự tập trung máu mạnh nhất. Mà máu chính là lửa và sự sống. Chính tại trung tâm này, chúng ta tìm thấy nguồn nhiệt và ý chí hành động của mình. Chúng ta biết rằng Mặt Trời đem lại cho ta cảm giác dễ chịu. Nó là nguyên nhân của chuyển động, rung động, âm thanh, màu sắc, mùi và vị. Tương tự như vậy, trong cơ thể, đám rối dương giống như một Mặt Trời ban sinh lực cho đời sống của chúng ta. Từ đó, ta có thể thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu trung tâm này. Ở đây, quá trình tiêu hóa và tính cách có mối liên hệ rất mật thiết với nhau. Chuyển hóa các ấn tượng cũng chính là chủ động chuyển hóa thức ăn; và hiệu quả của sự chuyển hóa ấy sẽ được biểu hiện nơi sức khỏe thể chất và tinh thần.

Ngọn lửa của luân xa Maṇipūra định hình khí chất trong tính cách của chúng ta ngay từ những năm đầu đời. Tính cách ấy có thể trở thành phương tiện cho đời sống tâm linh, nhưng cũng có thể phục vụ cho những khuynh hướng bản năng thú tính. Có thể nói rằng chính trong vùng bụng, số phận của chúng ta được thai nghén.

Luân xa thứ ba mang cùng biểu tượng và ý nghĩa với “tử cung của thiên nhiên”. Chúng ta biết rằng tử cung của người phụ nữ vừa là ngôi mộ của hồn, vừa là nơi hồn phục sinh vào một đời sống mới. Theo nghĩa ẩn dụ, đó là con tàu Nô-ê8, nơi bảo tồn những sinh linh cần thiết để tái lập sự sống trên trái đất. Nó cũng tương ứng với phòng của Nhà Vua trong kim tự tháp Ai Cập, nơi điểm đạo đồ — đại diện cho Thượng Đế-người — phải được đặt vào quan tài đá. Hình ảnh ấy tượng trưng cho tia sáng ban sự sống thâm nhập vào tử cung phì nhiêu của thiên nhiên, để rồi bước ra vào buổi sáng ngày thứ ba.

Con tàu Nô-ê trên núi Ararat, tranh sơn dầu trên vải của Simon de Myle, năm 1570.

Khi năng lượng sinh lực đi đến đám rối dương, nó thắp sáng chân đèn này — như cách Gioan trong sách Khải Huyền gọi — và đánh thức nơi điểm đạo đồ đức tính thận trọng. Nó cũng khai mở những khả năng siêu việt để nhận biết các hiện tượng của tự nhiên, tác động đến ruột, gan và tiềm thức, soi sáng tâm trí và đem lại cho người ấy sự sáng suốt. Cũng như đất tượng trưng cho sự tập trung, tức nền tảng, và nước tượng trưng cho sự mở rộng và kết nối, thì lửa tượng trưng cho sự thận trọng và ánh sáng.

Thực hành: thiền về luân xa Maṇipūra

Trung tâm cảm xúc là ăng-ten tiếp nhận mọi ấn tượng từ thế giới bên ngoài. Vì thế, chúng ta cần tránh những ấn tượng tai hại đến từ âm nhạc loạn nhịp, chói tai, cũng như từ các cuộc trò chuyện bệnh hoạn hoặc bạo lực.

— Samael Aun Weor

Sự tập trung vào luân xa Maṇipūra đem lại hiểu biết về hoạt động sinh lý và tâm lý của cơ thể con người, vì đám rối dương và vùng rốn tạo thành trọng tâm của cơ thể này.

Thiền về trung tâm năng lượng này là quan sát, nhận biết và thấu hiểu sự chuyển hóa của năng lượng sân giận hay phẫn nộ thành sự thanh thản và dịu dàng; thói tham ăn thành sự tiết độ; sự lười biếng thành hoạt động của ý thức.

Chuyển hóa một cách tích cực và có ý thức là mục tiêu của thiền về luân xa này. Để làm được điều đó, chúng ta phải quan sát, nghiên cứu và thấu hiểu những phản ứng bản năng, vô thức của luân xa này. Trung tâm lý trí không phải lúc nào cũng nhận biết được những phản ứng ấy; thông thường, chúng trôi qua mà không được nhận ra. Đây chính là nội dung của công việc chuyển hóa bản thân: làm việc với những ấn tượng đã để lại dấu vết trong ta, cũng như những ấn tượng vẫn liên tục đi vào.

Điều trước nhất trong công việc tập trung vào đám rối dương là biết giữ mình trong trạng thái nội tâm thích hợp; nghĩa là duy trì ý thức, không quên chính mình — hay nói cách khác, không quên Bản thể — và ghi nhớ rằng chúng ta luôn được vị Thần nội tâm bao bọc, nuôi dưỡng và soi sáng.

Trong khi thực hành với luân xa Maṇipūra, hãy tưởng tượng một mặt trời đang chiếu sáng và tắm đẫm trung tâm chuyển hóa năng lượng này bằng những tia vàng và bạc, khôi phục sự cân bằng cảm xúc lan tỏa khắp toàn bộ hệ thần kinh. Đồng thời, hãy xướng âm chữ cái căn bản rung động với trung tâm này. Nguyên âm “U” là nốt đặc biệt của đám rối dương; chỉ riêng hình dạng của nó cũng đã mời gọi chúng ta suy ngẫm: UUU…

Điều cần nhấn mạnh trong công việc tâm lý với trung tâm năng lượng thứ ba là ảnh hưởng qua lại giữa các giác quan vật lý, tâm trí và trung tâm cảm xúc. Khi quên Bản thể nội tâm trước một ấn tượng nào đó — đặc biệt là ấn tượng thị giác — chúng ta có thể mở đầu cho một chuỗi phản ứng máy móc, để rồi toàn bộ tâm lý cá nhân bị biến đổi và chúng ta trở thành nạn nhân của hoàn cảnh. Nếu cảm xúc cao cấp nối kết chúng ta với tâm thức tối thượng của Bản thể, thì cảm xúc tiêu cực lại tách chúng ta khỏi Ngài.

Về mối liên hệ giữa luân xa Maṇipūra và thử thách điểm đạo của nguyên tố lửa, Thầy Samael viết:

Thử thách này nhằm kiểm chứng sự điềm tĩnh và ôn hòa của ứng viên. Những ai dễ phẫn nộ, nóng nảy chắc chắn sẽ thất bại. Ứng viên thấy mình bị truy đuổi, lăng mạ, sỉ nhục, v.v. Nhiều người phản ứng bằng bạo lực và trở về cơ thể vật chất trong tình trạng hoàn toàn thất bại. Những người chiến thắng được đón tiếp trong sảnh đường trẻ thơ — tức các điểm đạo đồ — và được đón mừng bằng thứ âm nhạc tuyệt diệu: âm nhạc của các hành tinh. Những ngọn lửa làm kẻ yếu đuối phải kinh hoàng.

— Samael Aun Weor

Anāhata

  • Ý nghĩa tên gọi: “Điều không thể bị lay động”.
  • Vị trí: Đám rối tim; trái tim.
  • Nguyên tố: Không khí — không hình dạng, không mùi, không vị.
  • Phương diện: Sự cân bằng giữa ba luân xa phía trên trái tim và ba luân xa phía dưới.
  • Giác quan chủ đạo: Xúc giác.
  • Cơ quan cảm giác: Da.
  • Âm căn bản: “O” — OOO…
  • Số cánh: Mười hai.
  • Liên hệ với cỗ máy con người: Trung tâm cảm xúc cao cấp.
  • Hình dạng của nguyên tố: Hình sao sáu cánh.
  • Khuyết điểm tâm lý chủ đạo: Kiêu ngạo.
  • Suy ngẫm: “Lời khen không làm tăng giá trị, lời chê cũng không làm giảm giá trị của tôi.”

Tâm vị, hay trung tâm tim, liên hệ mật thiết với trái tim của hệ Mặt Trời. Con người là tiểu vũ trụ. Vì thế, muốn hiểu vũ trụ, chúng ta phải hiểu con người. Trong vũ trụ, ta tìm thấy con người; và trong con người, ta tìm thấy vũ trụ.

— Samael Aun Weor

Luân xa Anāhata là trung tâm của trực giác, tương ứng với đôi cánh của tinh thần. Trực giác là năng lực của tâm thức giúp ta thấu suốt mọi sự mà không cần đến quá trình chọn lựa khái niệm đầy giới hạn của lý trí chủ quan.

Trực giác là đức tin có ý thức, là sự tin cậy và xác tín vào thực tại có thể được nhận biết. Nhờ giác quan này của trái tim, chúng ta đạt được sự cân bằng giữa phần tâm trí và phần cảm giác.

Trong luân xa này, những lực đi lên từ các vùng bản năng của cơ thể vật chất được cân bằng với những lực đi xuống từ cõi thiêng liêng và hội tụ nơi trái tim. Nhờ đó, cái thiêng liêng được nhân tính hóa, còn con người được thần thánh hóa.

Tất cả các trung tâm năng lượng của sự chuyển hóa đều được cân bằng trong luân xa Anāhata, đặc biệt qua việc thực hành lòng bi mẫn, hay tình thương nhân ái đối với đồng loại, đồng thời đánh thức trong trái tim chúng ta sự khiêm nhường của Bản thể trước công trình sáng tạo bao la.

Trong ba luân xa phía trên, chúng ta nhận ra Đức Cha đầy Lòng Thương xót; trong ba luân xa phía dưới, Đức Thánh Linh đầy Quyền năng. Cả hai được chứa đựng trong Đức Con đầy Minh triết, và cả ba hợp thành hình sao sáu cánh trong ngôi đền của trái tim.

Nguyên tố khí chi phối trung tâm năng lượng này. Khí tượng trưng cho hình thái vi tế nhất của cõi tâm linh thuần khiết: không có hình dạng xác định, nhưng lại là nguyên nhân của mọi sự tồn tại. Lửa là một biểu hiện của tâm linh; còn khí là biểu tượng khách quan nhất cho chính bản chất của tâm linh. Vì vậy, chúng ta nói rằng Đức Cha là Hơi Thở Thiêng Liêng, hay Hơi Thở của Sự Sống.

“Mọi sự tồn tại theo nguyên lý của lửa”, triết gia Hy Lạp Heraclitus đã nói. Chúng ta có thể bổ sung rằng Hơi Thở Thiêng Liêng (khí) chính là tinh thần của ngọn lửa sáng tạo. Không có nó, lửa không thể biểu hiện trong các vũ trụ.

Có một ngọn lửa đi lên và một ngọn lửa đi xuống, theo quy luật tự nhiên của vạn vật. Luồng khí tâm linh là yếu tố thu hút, quy tụ và tập trung hai ngọn lửa ấy. Nó có thể nâng ngọn lửa dục vọng lên đến trái tim; đồng thời, cũng có thể thu hút hoặc làm cho ngọn lửa tình yêu của Đức Cha giáng xuống. Ngọn lửa này vốn âm thầm ngự trị trong chúng ta. Nhờ vậy, hai ngọn lửa được hợp lại và trao đổi với nhau, tạo nên những chuyển hóa màu nhiệm, rồi kết tinh thành linh hồn. Về sau, nhờ đó, chúng ta có thể hiện thể Mặt Trời Nửa Đêm trong chính trái tim mình.

Trong Phúc âm của Đấng Kitô, toàn bộ giáo lý về trái tim được cô đọng lại. Thập giá, hay ngôi sao sáu cánh trong trái tim, tượng trưng cho sự chuyển hóa và hy sinh mà cả yếu tố tâm linh trong chiều đi xuống, lẫn yếu tố thú tính trong chiều đi lên, đều phải thực hiện nơi trái tim con người.

Khí đồng nghĩa với chuyển động, sự sống và sức sống vô hình. Ngôi sao sáu cánh, hay quẻ sáu cánh, tượng trưng cho yếu tố này và cho hơi thở của sự sống, tương tự như prana. Nó duy trì hoạt động của phổi và tim, mang đến oxy cùng sinh lực mới. Khí cũng là nguyên lý tạo nên mọi chuyển động trong tự nhiên, vì thế luân xa thứ tư chuyển động theo mọi hướng.

Đáng tiếc thay, tâm trí lại can thiệp vào trung tâm năng lượng này, làm gián đoạn sức mạnh vi tế mà mãnh liệt của tình yêu trong các biểu hiện như lòng trắc ẩn, công lý, sự khiêm nhường, tinh thần hợp tác, đức tin tỉnh thức, v.v. Vì thế, trung tâm này không thể thực hiện trọn vẹn chức năng chính của mình: giúp chúng ta cảm nhận sự hợp nhất với tất cả mọi người.

Bậc thầy vĩ đại, Chúa Giêsu, đã để lại cho chúng ta một điều răn tóm lược tất cả: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em.” Chỉ khi yêu thương nhau, chúng ta mới chứng tỏ mình là môn đồ của bậc thầy nội tâm, Đấng ngự trong trái tim mỗi người.

Thực hành: thiền về luân xa Anāhata

“Vì vậy, chừng nào chúng ta chưa tự chia đôi chính mình thành hai con người: con người bên ngoài bình thường và con người nội tâm sâu thẳm, chúng ta vẫn chưa phải là những con người của đức tin. Chúng ta chỉ là những con người của niềm tin, chứ chưa phải của đức tin. Khi một người tự chia đôi chính mình, đức tin sẽ đến.”

— Samael Aun Weor

Thiền về luân xa Anāhata là dẫn truyền các năng lượng vì những mục đích vị tha và hợp tác; là thức tỉnh để hành động với lòng bi mẫn đối với tất cả những ai, vì vô minh, đang khóc than, chịu khổ và đau đớn.

Thông thường, chúng ta làm hao mòn năng lượng của trái tim trong những cảm xúc ích kỷ như kiêu hãnh, lo nghĩ cho bản thân, ác cảm, thù hận, v.v. Tuy nhiên, ta vẫn có thể thực hiện những nỗ lực có ý thức để đạt đến tư duy đúng đắn và cảm nhận đúng đắn. Những ai biết hy sinh sự tự cao của mình sẽ khôi phục và tái cấu trúc tính cách, đồng thời tái tổ chức dòng năng lượng cần thiết để thức tỉnh đến những cấp độ tâm thức khác.

Việc thực hành cầu nguyện và thiền là thiết yếu cho sự phát triển của đám rối tim. Cầu nguyện là trò chuyện với Thượng Đế; thiền là lắng nghe lời Người. Khi cầu nguyện, hãy cảm thấy mình hợp nhất với Thượng Đế. Khi thiền, hãy lắng nghe bằng toàn thể con người mình; hãy cảm thấy mình được ân sủng thấm nhuần, xuyên thấu, khai sáng và gột rửa.

Không có sự tách biệt giữa Thượng Đế và các tạo vật của Người. Chúng ta hãy nhớ rằng không hiện tượng nào trong tạo hóa bị phân ly hay tách rời khỏi Người. Thượng Đế là Đấng Tối Cao trong vạn vật, vì Người là nguyên nhân bao hàm tất cả. Với cách nhìn ấy, chúng ta phải xem trái tim như một khung cửa sổ nối kết mình với tất cả những trái tim khác.

Khi trung tâm trái tim hoạt động, đó sẽ là thời điểm thích hợp để suy ngẫm và sống theo quy tắc vàng rằng: “Đừng làm cho người khác điều mà bạn không muốn người khác làm cho mình”.

Khi năng lượng sống đi vào luân xa Anāhata, nó thắp lên trong trung tâm này của điểm đạo đồ ngọn lửa bừng cháy của sự thấu hiểu, đồng thời khơi dậy niềm khao khát hướng đến các cấp độ cao hơn của Bản thể, hay các cõi siêu việt.

Sức mạnh của Bản thể sẽ chỉ dạy chúng ta bằng trí huệ tổng hợp, cách phủ nhận chính mình, để bằng phương pháp biện chứng và giáo huấn, sự tự khẳng định hay tự cao phải chết đi, vốn là nền tảng của tâm lý đặc thù hay lối sống ấy.

Khi tìm hiểu cuộc thử thách điểm đạo của nguyên tố khí, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa của bài học này:

“Những ai tuyệt vọng khi đánh mất một điều gì đó hay một người nào đó; những ai sợ cảnh nghèo khó; những ai không sẵn lòng từ bỏ điều mình yêu quý nhất, đều thất bại trong thử thách của nguyên tố khí. Ứng viên bị ném xuống vực thẳm. Kẻ yếu đuối thét lên trong kinh hoàng rồi trở về cơ thể vật chất. Người chiến thắng được đón tiếp trong sảnh đường trẻ thơ giữa lễ mừng và sự khoản đãi.”

— Samael Aun Weor

Chữ “O” là âm thanh căn bản mà chúng ta phải phát âm trong các thực hành tập trung vào trung tâm năng lượng của sự chuyển hóa này. Khi tập trung sâu vào luân xa Anāhata, chúng ta hãy suy ngẫm về sự giản dị và trong suốt của nguyên tố khí, vốn như Thượng Đế, thâm nhập vào tất cả và ban sự sống cho tất cả. Hãy cảm thấy mình hòa tan vào nguyên tố khí; điều đó sẽ giúp thân và tâm thư giãn một cách tự nhiên.

Tâm thức của luân xa thứ tư giúp người tu hành vượt qua tâm thức sai lầm của các luân xa thấp hơn.

Tim và hơi thở giữ vai trò thiết yếu trong luân xa Anāhata. Tim là nơi trú ngụ quan trọng nhất của cảm xúc trong cơ thể; khi nhịp thở được kiểm soát, nhịp tim cũng được điều hòa. Người đã thực chứng tâm thức của luân xa thứ tư sẽ đạt đến sự cân bằng tinh tế trong thân và tâm. Bình diện thiêng liêng của luân xa này đem lại nhận thức về ân sủng thiêng liêng trong toàn bộ đời sống.


Viśuddha

Nguồn ảnh: MS Sanskrit 391. Tác giả: Svami Hamsasvarupa, thập niên 1900. Wellcome Collection.
  • Ý nghĩa tên gọi: “Thanh khiết”.
  • Vị trí: Đám rối động mạch cảnh; cổ họng.
  • Nguyên tố: Akasha (ê-te); âm thanh.
  • Phương diện: Tri thức và năng lực sáng tạo.
  • Giác quan chủ đạo: Thính giác.
  • Cơ quan cảm giác: Tai.
  • Âm căn bản: “E” — eeeee…
  • Thần chú: HAN.
  • Số cánh: Mười sáu.
  • Liên hệ với cỗ máy con người: Trung tâm vận động.
  • Hình dạng của nguyên tố: Trăng lưỡi liềm.
  • Khuyết điểm tâm lý chủ đạo: Dối trá.
  • Suy ngẫm: “Nói khi cần im lặng cũng tệ như im lặng khi cần nói.”

“Người hoàn hảo nói những lời hoàn hảo. Người học trò Gnosis muốn đi theo con đường Biện chứng tâm thức phải tập kiểm soát ngôn ngữ. Người ấy phải học cách sử dụng lời nói.”

— Samael Aun Weor

Luân xa thứ năm là nơi trú ngụ của âm thanh trong cơ thể, nằm ở cổ họng. Sự thanh khiết là một phẩm chất cốt yếu của luân xa Viśuddha. Khi tinh luyện trung tâm này, chúng ta sẽ hiểu được những thông điệp không lời, học cách lắng nghe nơi không có lời nói, và học cách diễn đạt những gì trái tim cảm nhận.

Ở luân xa thứ năm, tất cả các nguyên tố của những luân xa thấp hơn – đất, nước, lửa và không khí – đều được tinh luyện đến trạng thái thuần khiết nhất rồi hòa vào Akasha.

Nhân loại đã đánh mất khả năng lắng nghe cái siêu việt trong vạn vật vì sử dụng sai các luân xa thấp hơn. Không có sự thanh khiết thì không thể đạt được quyền năng thấu thính.

Cần có sự chuyển hóa các giá trị thấp thành những giá trị cao hơn. Muốn vậy, phải có sự hy sinh trên con đường chuyển hóa của bảy luân xa, từ dưới lên trên, từ đất triết học đến bầu trời của tâm thức chúng ta.

Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng đất tan vào nước và lưu lại trong luân xa thứ hai như tinh chất của khứu giác. Nước bốc hơi trong luân xa thứ ba rực lửa và lưu lại như tinh chất của vị giác. Tinh chất của lửa đi vào luân xa thứ tư và lưu lại ở đó như tinh chất của hình tướng và thị giác. Khí của luân xa thứ tư hòa vào Akasha và trở thành âm thanh thuần khiết. Akasha là tinh chất của cả năm nguyên tố: không màu sắc, không vị, không mùi, không xúc giác, không hình tướng, và vượt lên trên mọi nguyên tố thô trược.

Akasha là một chất kỳ diệu tràn ngập toàn bộ không gian vô tận, và khi biến đổi sẽ trở thành ê-te. Mọi sự đều sinh ra từ ê-te và mọi sự cũng trở về với ê-te. Nhà khoa học vĩ đại người Anh, Sir Oliver Lodge9, đã nói:
“Chính ê-te, qua những biến đổi đa dạng trong trạng thái cân bằng của nó, đã sinh ra mọi hiện tượng của vũ trụ, từ ánh sáng không thể chạm tới cho đến những khối lượng khổng lồ của các hành tinh.”

Nếu xem xét mối liên hệ giữa trung tâm thanh quản và tuyến tương ứng của nó, chúng ta sẽ đi đến những kết luận thú vị. Tuyến giáp, biểu hiện vật chất của trung tâm năng lượng chuyển hóa này, chính là yếu tố quyết định sự cân bằng của từng cơ quan, bộ máy và hệ thống trong cơ thể vật chất. Để thực hiện chức năng của mình, chúng nhất thiết cần đến các chất, tức hormone, do tuyến này sản xuất.

Giờ đây, ta có thể dễ dàng hiểu vì sao mình phải chịu trách nhiệm về cách sử dụng Ngôi lời, tức lời nói, khi xét đến mối quan hệ mật thiết giữa các cơ quan trong cơ thể và tuyến giáp, cũng như mối tương quan giữa bốn nguyên tố và tinh chất thứ năm: ê-te.

Các chất tiết của các tuyến nội tiết có mối liên hệ mật thiết với toàn bộ sự điều hòa và kiểm soát của hệ thần kinh tự chủ đối với các cơ hoạt động ngoài ý muốn.

Các dịch tiết của các tuyến, trong sự minh triết của nền sinh lý học vĩ đại, điều hòa toàn bộ quá trình trao đổi chất kỳ diệu của cơ thể vật chất. Các dịch tiết nội tiết cũng chi phối sự tăng trưởng và phát triển của toàn bộ cộng đồng tế bào.

Với sự phát triển của luân xa tuyến giáp, chúng ta kiểm soát được Akasha và có thể sống ngay cả trong những đêm của đại pralaya, như các yogi Ấn Độ đã khẳng định.

Các yogi thừa nhận rằng tại trung tâm này có một siêu thính giác, có khả năng ghi nhận các làn sóng của cõi siêu việt. Họ gọi siêu thính giác ấy là nhĩ thông. Nếu một yogi đắm mình trong thiền hằng ngày với mục đích lắng nghe một người bạn ở xa, thì trong những khoảnh khắc chập chờn giữa thức và ngủ, vị ấy có thể nghe được lời của người đó. Chính nhờ thiền nội tâm được kết hợp một cách khéo léo với giấc ngủ mà nhĩ thông thức tỉnh.

Thực hành: thiền về luân xa Viśuddha

“Chức năng của mỗi luân xa càng trở nên phức tạp khi vị trí của nó càng gần bộ não của cơ thể vật chất. Điều đó không có nghĩa các trung tâm thấp hơn kém quan trọng hơn. Ý chúng tôi muốn nói là, để đánh thức các trung tâm này, cần phát triển những phẩm chất vẫn còn ngủ yên hoặc tiềm ẩn. Và điều ấy chỉ có thể đạt được qua kinh nghiệm được vun bồi bằng một kỷ luật đều đặn và bền bỉ của người học.”

Điều quan trọng cần lưu ý là không trung tâm nào vận hành độc lập. Tất cả đều liên hệ mật thiết và đồng thời ảnh hưởng lẫn nhau. Trường hợp luân xa thứ năm cũng vậy: một mặt, nó tiếp nhận năng lượng từ trung tâm xương cùng, hay Mūlādhāra; mặt khác, nó hỗ trợ và biểu đạt dòng năng lượng từ trung tâm tim; sau cùng, nó được bổ sung bởi năng lượng đi xuống từ trung tâm trán, hay Ājñā.

Luân xa thứ năm là nơi diễn ra sự giằng co giữa “điều chúng ta muốn nói” và “điều chúng ta có thể nghe”.

Để đạt được sự cân bằng giữa những khía cạnh ấy của giao tiếp, trước hết chúng ta phải học cách hướng vào nội tâm và thiết lập mối quan hệ với chính mình. Tôi là ai? Tôi đang đi về đâu? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Tôi tin vào điều gì? Tôi có những phẩm chất và khuyết điểm nào? Tôi có hạnh phúc không? Tôi chấp nhận con người thật của mình hay luôn cố gắng bắt chước người khác?

Nếu trả lời những câu hỏi này, cũng như những câu hỏi hiện sinh và giao tiếp khác, bằng sự chân thành và trung thực, chúng ta sẽ đi đến kết luận rằng hình ảnh mình có về bản thân thực ra đến từ bên ngoài, qua các ấn tượng. Chúng ta nhận ra rằng mình là sản phẩm của một mã di truyền, một gia đình, một cộng đồng, một nền văn hóa, một thời đại. Tất cả những yếu tố ấy cùng nhau áp đặt lên chúng ta những khuôn mẫu hành vi về thể chất, cảm xúc và văn hóa, khiến phần lớn thời gian chúng ta nói hoặc làm nhiều điều mà thật ra mình không mong muốn.

Để vượt lên từ những trạng thái tâm lý bên ngoài đến những trạng thái nội tâm, trước hết chúng ta phải thừa nhận rằng mình chưa biết lắng nghe những gì diễn ra trong chính mình; rằng chúng ta chưa biết trò chuyện hay đối thoại với nguyên lý thông tuệ đang rung động trong không gian tâm lý của mình: tức Bản thể nội tại.

Vì vậy, nhân loại ngày nay đang sống trong tình trạng thiếu sự thống nhất nội tâm, đầy những xung đột nghiêm trọng. Chúng ta nghĩ một đằng, nói một nẻo, rồi cuối cùng lại làm một việc khác.

Một trong những cơ chế mà chúng ta hình thành để biện minh cho lối sống ấy là sự dối trá. Vì thế, chúng ta nói dối vì sợ hãi, vì thù ghét, vì muốn trả thù, để tự bảo vệ mình, để trốn tránh trách nhiệm, vì sợ người đời dị nghị, v.v. Chúng ta nói dối quá quen đến nỗi không còn nhận ra rằng, sau cùng, người bị lừa dối nhiều nhất lại chính là bản thân mình.

Sự dối trá và những cảm xúc tiêu cực luôn đi đôi với nhau. Cả hai đều tách chúng ta khỏi chân lý nơi Bản thể nội tại. Phải hiểu sự dối trá như một sự đoạn tuyệt với tình yêu, trí tuệ và hạnh phúc. Thiền về trung tâm năng lượng này trước hết là lắng nghe điều trái tim cảm nhận; từ đó, học cách sử dụng lời nói một cách cân bằng.

Thiền tập trung vào khoảng trống ở vùng cổ họng đem lại sự bình lặng, thanh thản và thanh khiết; một giọng nói du dương; khả năng làm chủ lời nói và các thần chú; khả năng diễn giải kinh sách, sáng tác thơ ca và giải mã những thông điệp ẩn giấu trong giấc mơ.

Nguyên âm “E” là âm thanh căn bản của trung tâm năng lượng chuyển hóa thứ năm này. Xướng âm nguyên âm ấy trong khi thiền sẽ giúp chúng ta tập trung sức mạnh của prana vào tuyến giáp.

Khi năng lượng sống đi vào luân xa Viśuddha, nó thắp lên sự thanh khiết trong lời nói và sự thấu hiểu trong lắng nghe.


Ājñā

  • Ý nghĩa tên gọi: “Quyền uy, quyền chỉ huy, quyền lực vô hạn”.
  • Vị trí: Đám rối hang; trung tâm giữa hai lông mày.
  • Nguyên tố: Maha-tattwa, nơi hội tụ tất cả các tattwa: Akasha, vayu, tejas, apas và prithvi.
  • Phương diện: Từ chính đề và phản đề, chúng ta đạt đến hợp đề.
  • Giác quan chủ đạo: Con mắt thứ ba.
  • Cơ quan cảm giác: Hệ thần kinh, năm giác quan và tuyến yên.
  • Âm căn bản: “I” — iiiii…
  • Thần chú: OM.
  • Số cánh: Hai.
  • Liên hệ với cỗ máy con người: Trung tâm tâm linh cao cấp.
  • Khuyết điểm tâm lý chủ đạo: Chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa duy vật.
  • Suy ngẫm: “Sự thấu hiểu là trái vàng của lý trí.”

“Tâm trí là kẻ sát hại cái thực, cái chân thật. Tâm trí hủy diệt tình yêu. Cần phải thấu hiểu sâu sắc mọi tiến trình của tâm trí, bởi chính những tiến trình ấy đã giết chết vẻ đẹp của tình yêu. Tâm trí có thói quen so sánh. Người nào ngắm nhìn một cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp rồi đem so sánh nó với một cảnh khác, thì thật sự chưa biết thấu hiểu vẻ đẹp đang hiện ra trước mắt mình.”

— Samael Aun Weor

Luân xa thứ sáu là nơi ngự trị của tâm trí. Tâm trí có bản chất năng lượng, vi tế, và không phải là bộ não. Tâm trí có thể tách khỏi vật chất; trong một số trạng thái thôi miên, hoặc trong giấc ngủ bình thường, nó có thể di chuyển đến những nơi rất xa và trải nghiệm những gì đang xảy ra ở đó.

Bộ não không phải là tâm trí, cũng không phải là suy nghĩ. Bộ não là cơ quan tiếp nhận và truyền đạt suy nghĩ; nó chỉ đơn thuần là một công cụ của tâm trí.

Cơ thể lý trí bắt đầu hoạt động qua chức năng căn bản và sơ khởi của nó: suy nghĩ. Chừng nào chức năng này chưa được phát triển một cách chủ động, thì các chức năng cao hơn — những chức năng cho phép chúng ta tiếp xúc với thực tại tâm linh của mình, tức Bản thể nội tại — vẫn chưa thể được thực hiện. Từ đó, ta thấy tầm quan trọng của việc học cách thay đổi lối suy nghĩ của mình.

Tư duy là gì? Đó là một quá trình bắt đầu bằng việc tiếp nhận một kích thích – tức sự tri giác hay cảm nhận về một điều gì đó. Tiếp đến, điều được tri giác ấy được phân tích thành các phần, rồi được tổng hợp lại để thấu hiểu cái toàn thể. Sau cùng, một kết luận được hình thành, và kết luận ấy tất yếu phải dẫn đến hành động. Nếu thiếu một trong những bước đó, thì không còn là tư duy nữa.

Chúng ta cần phân biệt giữa tư duy do phản ứng và tư duy do hành động. Phản ứng trước một kích thích là máy móc và vô thức, còn hành động của tư duy là một hành vi thông minh và có ý thức. Đó chính là suy nghĩ đúng đắn và hành động đúng đắn.

Việc đưa “suy nghĩ đúng đắn” vào từng hành động đòi hỏi nỗ lực, kiên nhẫn, tận tâm, bền chí và kỷ luật. Quá trình này bắt đầu từ chính chúng ta, qua việc quan sát bản thân: khả năng giúp ta phân tách mình thành người quan sát và đối tượng được quan sát. Chính tâm thức trao cho tư duy khả năng biết và thấu hiểu những phần trong tâm lý của chúng ta chưa hòa hợp với vũ trụ, với thiên nhiên và với đồng loại. Vì thế, cái được quan sát là cái Tôi đa nguyên; còn người quan sát, thông qua tâm trí, là tâm thức.

Bất kỳ ai cũng có thể suy nghĩ, tích lũy đủ mọi loại thông tin trong tâm trí rồi trình bày chúng một cách điêu luyện trước công chúng. Điều đó thường được gọi là trí tuệ. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng nhiều người không hành động phù hợp với những gì mình nói. Nói cách khác, họ chỉ hoàn thành giai đoạn đầu của tư duy mà không đi trọn tiến trình của nó. Bởi lẽ, lý luận chỉ là một chuyện, còn thấu hiểu lại là một chuyện hoàn toàn khác.

Suy luận mà không thấu hiểu thì chỉ đơn thuần là suy nghĩ. Còn suy luận để rút ra hợp đề từ chính đề và phản đề của một ấn tượng đi vào tâm trí, đó mới là “suy nghĩ đúng đắn”.

Khi một suy nghĩ không đạt tới sự thấu hiểu, thì chúng ta mới chỉ đi được nửa chặng đường trên con đường hướng đến tâm thức thức tỉnh.

Chúng ta hãy ghi nhớ rằng suy nghĩ là chiếc cầu nối giữa những bản năng thấp kém và những cảm xúc cao thượng. Quan sát và thấu hiểu những bản năng ấy là chức năng của tâm thức, còn suy nghĩ phải là phương tiện phục vụ cho tâm thức. Từ lý trí, chúng ta chỉ có thể thu hái quả vàng của nó; quả vàng của lý trí chính là sự thấu hiểu.

Sự thấu hiểu tất yếu dẫn đến “cảm nhận đúng đắn”, hay cảm xúc cao cấp. Những bản năng thấp đã được phân tích, thấu hiểu và chế ngự để có thể chuyển hóa. Tâm thức bị mắc kẹt trong những điều thấp kém, nhờ “suy nghĩ đúng đắn” và “cảm nhận đúng đắn”, sẽ được tái sinh thành “hành động đúng đắn”.

Thực hành: thiền về luân xa Ājñā

Giác quan của sự tự quan sát tâm lý chính là khả năng thấu thị; đó là trí tưởng tượng có ý thức, hay năng lực nhìn thấu.

— Samael Aun Weor

Các yogi Ấn Độ khẳng định rằng hoa sen hai cánh xuất phát từ tuyến yên. Trung tâm năng lượng chuyển hóa này, hay hoa sen này, nằm trong cơ thể cảm xúc mà các thầy thuốc thời Trung cổ từng nói đến, chính xác là giữa hai lông mày. Các yogi quả quyết rằng luân xa này làm cho chúng ta có nhãn thông.

Trí tưởng tượng chính là nhãn thông; vì thế, mọi người đều có nhãn thông hay trí tưởng tượng ở những mức độ khác nhau. Đối lập với trí tưởng tượng là huyễn tưởng: những mơ tưởng phi lý, những cặn bã của ký ức, v.v., do một tâm trí mất quân bình tạo ra.

Một tâm trí cứ suy luận liên tục mà không thấu hiểu sẽ trở nên mất cân bằng, và vì thế trở thành nạn nhân của huyễn tưởng hay trí tưởng tượng máy móc. Trí tưởng tượng tích cực phải bay trên đôi cánh của cảm hứng để phụng sự tâm thức. Khi ấy, tâm trí trở thành phương tiện để hồn biểu lộ.

Trí tưởng tượng, cảm hứng và trực giác là ba bước không thể thiếu để trở thành người có nhãn thông tích cực.

Học trò Gnosis phải trau dồi đức hạnh thanh thản và dịu dàng nếu muốn khôi phục trí tưởng tượng chủ động của mình. Sự thanh thản là chìa khóa quan trọng nhất để phát triển phẩm chất này. Cơn giận phá hủy sự hài hòa của toàn thể và làm tổn hại nghiêm trọng các cánh hoa của luân xa giữa hai lông mày. Cơn giận phân hủy ánh sáng tinh tú thành một chất độc gọi là “imperil”; chất độc này làm tổn hại các cánh hoa của trung tâm từ tính giữa hai lông mày và làm tắc nghẽn các kênh của hệ thần kinh đại giao cảm.

Hãy niệm nguyên âm “I” (iiiii…) để làm cho luân xa thấu thị xoay chuyển, trong sự tĩnh lặng sâu thẳm của suy nghĩ. Hãy chiêm ngưỡng những hình ảnh nội tâm mà không để tiến trình lựa chọn và so sánh các khái niệm chia tách tâm trí thành cuộc xung đột giữa chính đề và phản đề.

Khi đứng trước một hình ảnh nội tâm, tâm trí chúng ta phải chảy trọn vẹn trong sự hài hòa của suy nghĩ. Tâm trí phải trở nên nhạy cảm và tinh tế một cách kỳ diệu. Tâm trí phải giành lại sự ngây thơ đã mất.

Trong thế giới vật chất, mọi hoạt động đều gắn liền với chuyển động. Nhưng trong các cõi tâm thức cao hơn, điều cần thiết là sự tĩnh lặng sâu thẳm: một sự an tĩnh bao la của tâm trí để tri nhận những hình ảnh nội tâm, vốn đến nhằm chữa lành những tầng tâm lý đã bị xáo trộn bởi sự lạm dụng lý luận vô thức.

“Chúng ta phải học, qua kinh nghiệm trực tiếp của chính mình, cách phân biệt giữa những hình ảnh được tiếp nhận và những hình ảnh do chính chúng ta tạo ra rồi phóng chiếu, dù có ý thức hay vô thức. Cần phải học cách phân biệt giữa những hình ảnh của chính mình và những hình ảnh đến từ người khác. Tiếp nhận một hình ảnh là một chuyện; còn phóng chiếu một hình ảnh do tâm trí của chính mình tạo ra lại là chuyện khác.”

— Samael Aun Weor

Các trường phái tâm linh đều có những phương pháp để phát triển các giác quan nội tại. Nhưng nếu chỉ chăm lo phát triển các năng lực thần thông mà không diệt trừ cái “tôi” tâm lý, thì con người mới, tức Bản thể nội tại, sẽ không thể xuất hiện.


Sahasrāra

  • Ý nghĩa tên gọi: “Nghìn cánh sen”. Còn được gọi là shunya (Không – trong Tính Không) và luân xa Niralambapuri (nơi cư ngụ không cần điểm tựa).
  • Vị trí: Phần trên của hộp sọ; não bộ.
  • Nguyên tố: Năng lượng thiêng liêng.
  • Phương diện: Giải thoát và quân bình.
  • Giác quan chủ đạo: Đa nhãn thông.
  • Cơ quan cảm giác: Não bộ; tuyến tùng.
  • Âm căn bản: “I” — iiiii…
  • Số cánh: Một nghìn.
  • Liên hệ với cỗ máy con người: Tự ý thức.
  • Khuyết điểm tâm lý chủ đạo: Vô minh và ảo tưởng về sự tách biệt.
  • Suy ngẫm: “Khởi đầu cũng chính là kết thúc, nhưng với tất cả những gì đã học được trên hành trình.”

Người ta thường nhầm lẫn tâm thức với trí thông minh hoặc lý trí, và gọi những người rất thông minh hoặc rất duy lý là những người rất tỉnh thức. Chúng tôi khẳng định rằng tâm thức nơi con người là một năng lực nhận biết nội tâm hết sức đặc biệt, hoàn toàn độc lập với mọi hoạt động của tâm trí. Năng lực của tâm thức cho phép chúng ta biết chính mình.

— Samael Aun Weor

Biết chính mình, hay tự tri, là sự trở về điểm xuất phát, nhưng ở một quãng tám10 cao hơn. Chúng ta có thể đi qua cuộc đời mà cuộc đời không hề đi qua chúng ta; nghĩa là, chúng ta không nhớ về chính mình.

Tâm thức nguyên thủy, hay Phật tính trinh nguyên, là chất liệu tâm lý để chúng ta tạo nên linh hồn.

Phật tính không tự biết chính mình. Nhưng khi khám phá chính mình trong vũ trụ của những mối tương quan, Phật tính tự biết chính mình và đạt đến tính nhất thể giữa sự đa dạng bao la của vũ trụ.

Cội nguồn của mọi tri thức luôn ở bên trong. Mỗi tâm thức đều có những cấp độ và tầng mức riêng. Cấp độ của tâm thức càng cao thì sự nhớ bản thân càng sâu sắc. Mục tiêu thì vô hạn, cũng như sự sáng tạo. Tình yêu và trí tuệ làm cho mọi điều trở nên có ý nghĩa.

Điều duy nhất phân biệt vũ trụ của cái vô cùng lớn với cái vô cùng nhỏ là ý thức về bản thân, vì Đấng Tạo Hóa đã ban cho mọi tạo vật bản chất nội tại của chính Ngài.

Biết chính mình là chiêm ngưỡng mình như một khoảnh khắc của toàn thể, là biết mình vô hạn và dùng tất cả sức mạnh của bản thể để khước từ lòng kiêu ngạo ghê tởm của tính phân ly.

"Nosce te ipsum" là dòng chữ thiêng liêng được khắc trên đá sống ở ngưỡng cửa uy nghiêm của đền Delphi, thuộc Hy Lạp cổ đại. Câu ấy có nghĩa là: "Hãy biết chính mình, rồi ngươi sẽ biết vũ trụ và các vị thần." Đây là châm ngôn của các tư tế huyền môn Hy Lạp cổ đại và cho đến nay vẫn là nền móng của khoa học siêu việt, nhờ đó mỗi Phật tính có thể kết tinh thành tính nhất thể đích thực.

Luân xa Sahasrāra cùng với tuyến tùng là nơi hội tụ của sự tổng hợp và tính nhất thể, nơi mọi bản chất nhị nguyên đều tan biến. Đó là sự hợp nhất giữa linh hồn và Bản Thể bên trong. Đây mới chính là ý nghĩa đích thực của sự khai ngộ của Bản Thể.

Thực hành: thiền về luân xa Sahasrāra

Cần nhấn mạnh rằng Cách mạng tâm thức không chỉ hiếm hoi trên hành tinh này, mà còn ngày càng trở nên hiếm hoi hơn.

— Samael Aun Weor

Thông qua sự tiến hóa máy móc của tự nhiên, người ta tin rằng trên hành tinh này có vô vàn khả năng để đạt được thành tựu nội tâm. Nhưng sự thật là, giữa muôn vàn khả năng ấy, chỉ có một con đường duy nhất: biết chính mình.

Thành tựu nội tâm là kết quả của những nỗ lực có ý thức bền bỉ và sự chịu đựng đau khổ với một thái độ tích cực. Tâm thức càng được tôi luyện, khả năng chuyển hóa càng lớn.

Trật tự đi lên của các trung tâm năng lượng trong quá trình chuyển hóa dựa trên nguyên lý rằng, để đạt đến những cấp độ cao nhất của tâm thức, chúng ta phải chuyển hóa các bản năng, cảm giác, cảm xúc, tình cảm và những tư tưởng ở tầng thấp.

Khi dần hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới tiềm thức của chính mình, chúng ta từng bước tiến lên những trạng thái tâm thức mới, cho đến khi vượt từ cái tương đối sang cái tuyệt đối.

Để thiền về luân xa này, chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng quá trình thực hành nơi sáu trung tâm trước đó, để mọi kết quả được tổng hợp trong luân xa thứ bảy.

Sáu luân xa phát xuất từ luân xa thứ bảy. Khả năng chuyển hóa của luân xa Sahasrāra tùy thuộc vào mức độ chuyển hóa của sáu luân xa còn lại.

Trong suốt quá trình thiền, hãy để tâm trí trở nên an tĩnh và sâu lắng. Thư giãn cơ thể và tâm trí bằng kỹ thuật thở nhịp nhàng.

Trong Mūlādhāra: Hãy làm tĩnh lặng tâm trí của bạn, để bạn cảm nhận được hương thơm của đất ngát hương và khám phá lòng can đảm để vượt qua những hiểm nguy trên con đường…

Đức Mẹ Sầu Bi
1609–1685. Nguồn: http://www.bridgemanartondemand.com/art/104827/The_Madonna_in_Sorrow

Trong Svādhiṣṭhāna:
Hãy để tâm trí lắng xuống và làm dịu cơn khát của mình trong những dòng nước tinh khiết của sự sống, để học cách thích nghi với mọi hoàn cảnh của cuộc sống…

Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội: Tranh sơn dầu trên vải của Bartolomé Esteban Murillo, khoảng năm 1652;

Trong Maṇipūra:
Hãy để tâm trí lắng xuống, rồi bạn sẽ thấy Mặt Trời dẫn dắt bạn đến với cõi bình an, thanh thản và dịu dàng…

Cuộc Thăm Viếng: Tranh của Raphael, khoảng năm 1517; kích thước 200 × 145 cm, hiện thuộc bộ sưu tập Museo del Prado, Madrid.

Trong Anāhata:
Hãy để tâm trí lắng xuống, và như Thánh Tôma11, hãy học cách chạm đến Bậc Thầy Bí Mật đang hiện hữu trong bạn. Khi ấy, bạn cũng sẽ trở nên nhẹ nhàng và trong suốt như gió…

Đức Mẹ Sầu Bi.

Trong Viśuddha:
Hãy để tâm trí lắng xuống, rồi bạn sẽ nghe được tiếng nói của thinh lặng, nguồn cội của quyền năng ngôn từ…

Chi tiết cảnh Thánh Quiteria chịu tử đạo và phép lạ của Người. Thánh Quiteria là ột vị thánh đồng trinh tử đạo thời Kitô giáo sơ khai, được tôn kính rộng rãi tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp. Theo truyền thuyết, bà bị xử trảm vì từ chối chối bỏ đức tin; lễ kính vào ngày 22 tháng 5.
Hình ảnh đã được nâng độ phân giải bằng AI.
Thánh Quiteria
Trường phái Bồ Đào Nha, thế kỷ XVIII
Nguồn: Leiloeira São Domingos

Trong Ājñā:
Hãy để tâm trí lắng xuống, rồi bạn sẽ hiểu rằng tính nhị nguyên chính là điều thiện trong điều ác và điều ác trong điều thiện…

Đức Mẹ Phù Hộ: Tranh sơn dầu trên gỗ của Lucas Cranach Lão, được thực hiện vào khoảng 1517–1537; kích thước 85 × 60 cm. Tác phẩm khắc họa Đức Maria ôm Chúa Hài Đồng và hiện được đặt tại bàn thờ chính của Nhà thờ Chính tòa Innsbruck, Áo.

Trong Sahasrāra:
Giờ đây, hãy nghiêm túc suy ngẫm về lời di huấn của minh triết cổ xưa: “Trước khi bình minh giả tạo ló dạng trên Trái Đất, những ai sống sót qua cuồng phong và bão tố đã ca ngợi Bản Thể, và các sứ giả của bình minh đã hiện ra với họ.”

— Rê-pha-el A. Vargas

Lễ đăng quang của Đức Trinh Nữ Maria: Tranh sơn dầu trên vải của Diego Velázquez, thực hiện trong khoảng 1635–1636 tại Tây Ban Nha. Tác phẩm mô tả Đức Maria được Ba Ngôi Thiên Chúa trao vương miện, hiện thuộc bộ sưu tập Museo del Prado, Madrid.

Mục lục

Phần một

  1. 01Thư giãn
  2. 02Thực hành thiền bằng phương pháp hít thở theo nhịp
  3. 03Thực hành thiền qua các bài tập thở
  4. 04Khoa học của thiền
  5. 05Quay vào bên trong, tập trung và thiền
  6. 06Tính nữ vĩnh cửu và mối liên hệ với Giêsu nội tại
  7. 07Pranayama Ai Cập
  8. 08Tập trung và thiền
  9. 09aKundalini
  10. 09bTâm lý học & các luân xa

Phần hai

  1. 10Luân xa trái tim
  2. 11Vô Văn, thiền sư Trung Hoa
  3. 12Om Mani Padme Hum

Bài cập nhật

Chưa có bài cập nhật.