“Fugit irreparabile tempus”: Thời gian đã mất thì không bao giờ có thể lấy lại.
– Samael Aun Weor

Tuổi già
Bốn mươi năm đầu của cuộc đời viết nên một cuốn sách; ba mươi năm sau chỉ là lời bình giải cho cuốn sách ấy.
Ở tuổi hai mươi, con người là con công; ba mươi tuổi là sư tử; bốn mươi tuổi là lạc đà; năm mươi tuổi là rắn; sáu mươi tuổi là chó; bảy mươi tuổi là khỉ; và đến tám mươi tuổi, con người chỉ còn là một tiếng nói và một cái bóng.1
Thời gian phơi bày mọi sự. Nó là một kẻ ba hoa rất thú vị, cứ tự động phát biểu ngay cả khi chẳng ai hỏi đến.
Mọi thứ do bàn tay của động vật trí năng khốn khổ, bị gọi nhầm là con người, tạo ra rồi sớm muộn cũng sẽ bị thời gian hủy hoại.
“Fugit irreparabile tempus”: Thời gian đã mất thì không bao giờ có thể lấy lại.
Thời gian sẽ đưa ra ánh sáng những gì hôm nay còn bị che giấu, đồng thời phủ màn che lên những gì đang rực rỡ huy hoàng. Tuổi già cũng giống như tình yêu: không gì có thể che giấu được, dù có khoác lên mình tấm áo của tuổi trẻ. Tuổi già bào mòn lòng kiêu hãnh của con người và khiến họ trở nên khiêm nhường hơn. Nhưng khiêm nhường là một chuyện, còn bị sỉ nhục lại là một chuyện khác.
Khi cái chết đến gần, người già – lúc này đã vỡ mộng trước cuộc đời – nhận ra rằng tuổi già không còn là một gánh nặng nữa. Ai cũng mong được sống lâu và sống đến tuổi già, nhưng khi tuổi già thực sự đến thì lại sợ hãi nó. Tuổi già bắt đầu từ năm mươi sáu tuổi và trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài bảy năm, dần đưa con người đến sự suy tàn rồi cuối cùng là cái chết. Bi kịch lớn nhất của người già không phải là tuổi già, mà là sự ngu muội khi không chịu thừa nhận mình đã già, và còn tin rằng mình vẫn còn trẻ, như thể tuổi già là một điều đáng hổ thẹn. Điều đẹp đẽ nhất của tuổi già là con người đã ở rất gần đích đến của mình.
Cái tôi tâm lý, cái “bản thân mình”, không hề trở nên tốt đẹp hơn theo thời gian hay nhờ kinh nghiệm; trái lại, nó ngày càng phức tạp, rắc rối và khó chữa hơn. Bởi vậy mới có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời.” 2
Cái tôi tâm lý của những người già khó tính thường tự an ủi mình bằng những lời khuyên tốt đẹp, bởi chính họ lại không phải là tấm gương đẹp đẽ.
Người già hiểu rất rõ rằng tuổi già là một tên bạo chúa khắc nghiệt: nó cấm họ hưởng những lạc thú cuồng nhiệt của tuổi trẻ, và trừng phạt không thương tiếc bất cứ ai dám thách thức nó. Vì thế, họ thường tự an ủi mình bằng những lời khuyên tốt đẹp.
Cái tôi che giấu chính cái tôi; cái tôi che đậy một phần của chính mình, rồi khoác lên tất cả những lời lẽ cao đẹp và những lời khuyên tốt đẹp.
Một phần của “bản thân mình” che giấu một phần khác của chính nó. Cái tôi luôn che giấu những gì bất lợi cho mình.
Kinh nghiệm cho thấy rất rõ rằng, khi một thói xấu tự nhiên rời bỏ chúng ta, thì chúng ta thường tin rằng chính mình đã cố ý từ bỏ nó.
Trái tim của động vật trí năng không hề trở nên tốt đẹp hơn theo thời gian; trái lại, nó ngày càng tệ hơn. Trái tim ấy dần trở nên chai cứng, và nếu khi còn trẻ chúng ta đã tham lam, dối trá, nóng giận, thì khi về già những thói xấu ấy chỉ càng trở nên tồi tệ hơn.
Người già sống trong quá khứ. Người già là kết quả của vô số “ngày hôm qua”. Họ gần như không còn sống với hiện tại. Người già chỉ là một kho ký ức chất chồng.
Cách duy nhất để già đi một cách đúng nghĩa là làm tan rã cái tôi tâm lý. Khi học được cách chết đi trong từng khoảnh khắc, chúng ta sẽ bước vào tuổi già với sự thanh thản. Tuổi già sẽ trở thành nguồn bình an và tự do lớn lao đối với những ai đã làm tan rã cái tôi tâm lý.

Khi mọi ham muốn đã chết hẳn, chết một cách trọn vẹn và dứt khoát, con người sẽ thật sự được tự do, không chỉ thoát khỏi một, mà thoát khỏi vô số ông chủ.
Trên đời này, hiếm khi ta gặp được những người già thật sự vô tội, những người không còn sót lại chút gì của cái tôi. Những người như thế vô cùng hạnh phúc, vì họ sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.
Ông lão tóc bạc phơ, đầy trí tuệ; bậc cao niên thấm đẫm minh triết; vị chúa tể của tình yêu – thực sự trở thành ngọn hải đăng soi sáng dòng chảy của muôn đời.
Trên thế giới, đã từng có và đến nay vẫn còn một vài vị chân sư cao niên, những người không còn sót lại dù chỉ một chút tàn dư của cái tôi. Những vị A-la-hán của Gnosis này thanh khiết và thiêng liêng như những đóa sen.
Bậc chân sư cao niên đáng kính, người đã làm tan rã hoàn toàn và dứt khoát cái tôi đa nguyên, chính là hiện thân của minh triết hoàn hảo, tình yêu thiêng liêng và sức mạnh siêu phàm.
Một vị chân sư cao niên đã hoàn toàn làm tan rã cái tôi chính là sự hiển lộ trọn vẹn của bản thể thiêng liêng.
Những bậc trưởng lão siêu phàm này, những vị A-la-hán của Gnosis, đã khai sáng thế giới từ thuở xa xưa. Hãy nhớ đến Đức Phật, Môi-se, Hermes, Rama, Krishna, Đa-ni-ên, Đức Liên Hoa Sanh3, v.v.
Thầy cô ở trường phổ thông, giảng viên cao đẳng và đại học, cũng như các bậc cha mẹ, cần dạy cho thế hệ trẻ biết kính trọng người cao tuổi.
Đấng không tên, Đấng thiêng liêng, Đấng Chân Thực, có ba khía cạnh: Minh triết, Tình yêu và Ngôi Lời.
Biểu hiện của Đấng Thiêng Liêng được gọi là Đức Cha chính là minh triết càn khôn; Đức Mẹ là tình yêu vô hạn; và Đức Con là Ngôi Lời.4
Trong gia đình, người cha là biểu tượng của minh triết; người mẹ là biểu tượng của tình yêu; còn con cái là biểu tượng của Ngôi Lời.
Người cha tuổi cao xứng đáng được con cái phụng dưỡng và nâng đỡ. Khi tuổi già không còn cho phép người cha lao động, thì việc con cái phụng dưỡng và kính trọng ông là điều hoàn toàn đúng đắn.
Người mẹ tuổi cao đáng kính không còn khả năng lao động nữa; vì thế, các con cần chăm sóc và yêu thương bà, coi tình yêu ấy như chính tôn giáo của mình.
Kẻ nào không biết yêu mẹ, không biết kính cha, thì kẻ đó đang bước trên con đường tả đạo5, con đường của sai lầm.
Con cái không có quyền phán xét cha mẹ mình. Trên đời này chẳng có ai hoàn hảo; người không mắc khuyết điểm ở phương diện này thì cũng sẽ có những thiếu sót ở phương diện khác. Xét về bản chất, tất cả chúng ta đều giống nhau.
Có người xem nhẹ tình yêu của cha, thậm chí có kẻ còn đem tình yêu ấy ra chế giễu. Người nào hành xử như vậy thì vẫn chưa thực sự đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến Thực tại không tên.
Đứa con vô ơn, ghét cha quên mẹ, là một kẻ thực sự hư hỏng; hắn căm ghét mọi điều thiêng liêng.
Cách mạng của tâm thức không có nghĩa là vô ơn; cũng không có nghĩa là quên cha, khinh mẹ. Cuộc cách mạng của tâm thức là minh triết, tình yêu và sức mạnh hoàn hảo.
Người cha tượng trưng cho minh triết, người mẹ là suối nguồn sống động của tình yêu. Nếu không có tinh chất thuần khiết nhất của cha và mẹ, chúng ta thực sự không thể đạt đến sự khai ngộ nội tâm cao nhất.
– Samael Aun Weor, “Giáo dục nền tảng”
Cái chết
Điều cấp thiết là phải hiểu cho thật thấu đáo, trong mọi tầng sâu của tâm trí, cái chết thực sự là gì. Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể hiểu được trọn vẹn về bất tử.
Việc nhìn thấy thi thể của một người thân yêu nằm trong quan tài không có nghĩa là chúng ta đã hiểu thấu bí ẩn về cái chết.
Sự thật là một bí ẩn trong từng khoảnh khắc. Sự thật về cái chết cũng không phải là ngoại lệ.
Dĩ nhiên, cái tôi lúc nào cũng muốn có một thứ bảo hiểm cho cái chết, một sự bảo đảm bổ sung, một quyền lực nào đó hứa hẹn cho nó một chỗ đứng tốt đẹp cùng một dạng bất tử nào đó bên kia nấm mồ đáng sợ.
Cái “bản thân mình” không muốn chết. Cái tôi luôn muốn tiếp tục tồn tại. Cái tôi vô cùng sợ chết.
Sự thật không phải là vấn đề của niềm tin hay sự hoài nghi. Sự thật không liên quan gì đến tính cả tin hay chủ nghĩa hoài nghi. Sự thật cũng không liên quan đến các ý tưởng, lý thuyết, ý kiến, khái niệm, định kiến, giả định, thành kiến, khẳng định, tranh luận, v.v. Sự thật về bí ẩn của cái chết cũng không phải là ngoại lệ.
Sự thật về bí ẩn của cái chết chỉ có thể được hiểu bằng trải nghiệm trực tiếp.
Trải nghiệm trực tiếp về cái chết không thể được truyền đạt cho người chưa từng biết đến nó.
Bất kỳ nhà thơ nào cũng có thể viết nhiều cuốn sách tuyệt hay về tình yêu, nhưng không thể truyền đạt sự thật về tình yêu cho người chưa từng trực tiếp trải nghiệm nó. Tương tự như vậy, chúng ta cũng có thể nói rằng: không thể truyền đạt sự thật về cái chết cho người chưa từng trực tiếp trải nghiệm nó.
Ai muốn biết sự thật về cái chết thì phải nghiên cứu, phải tự mình thử nghiệm và tìm kiếm đúng phương pháp. Chỉ bằng cách ấy, chúng ta mới có thể khám phá được ý nghĩa sâu xa của cái chết.
Qua nhiều năm quan sát và trải nghiệm, chúng tôi nhận ra rằng con người không thực sự quan tâm đến việc thấu hiểu ý nghĩa sâu xa của cái chết. Điều duy nhất họ mong muốn là tiếp tục tồn tại ở thế giới bên kia, đơn giản là như vậy.
Nhiều người muốn tiếp tục tồn tại thông qua của cải vật chất, danh tiếng, gia đình, niềm tin, ý tưởng, con cái, v.v. Nhưng khi nhận ra rằng mọi hình thức “tồn tại” về mặt tâm lý đều chỉ là hão huyền, tạm bợ và phù du, họ sẽ trở nên bất ổn, lo âu, sợ hãi, kinh hoàng và chìm trong nỗi sợ vô tận.
Những con người đáng thương ấy không muốn nhận thức, cũng không muốn hiểu rằng mọi thứ tiếp tục tồn tại theo cách ấy rồi cũng sẽ dần suy tàn.
Những người tội nghiệp đó không muốn hiểu rằng những gì tiếp tục tồn tại theo cách ấy rồi cũng sẽ suy tàn theo thời gian.
Những người đáng thương đó không muốn hiểu rằng những gì tiếp tục tồn tại theo cách ấy rồi sẽ trở nên máy móc, lặp đi lặp lại và nhàm chán.
Chúng ta cần nhận thức trọn vẹn ý nghĩa sâu xa của cái chết; đây là điều cấp bách, cần thiết và không thể thiếu. Chỉ khi ấy, nỗi sợ không còn tồn tại mới có thể biến mất.
Khi quan sát nhân loại một cách kỹ lưỡng, chúng ta có thể nhận thấy rằng tâm trí luôn bám chặt vào những gì quen thuộc và mong muốn những điều ấy tiếp tục tồn tại sau khi chết.
Tâm trí bị giam cầm trong cái đã biết thì không bao giờ có thể trải nghiệm được cái chưa biết, cái thực và cái chân thật.
Chỉ khi phá vỡ chiếc chai của thời gian bằng phương pháp thiền đúng đắn, chúng ta mới có thể trực tiếp trải nghiệm được thực tại vĩnh hằng, sự thật vượt ngoài thời gian, chân lý.
Những ai khao khát tiếp tục tồn tại thì đều sợ chết, và những niềm tin cùng các lý thuyết của họ chỉ đóng vai trò như một thứ ma túy tinh thần.
Bản thân cái chết hoàn toàn không đáng sợ. Đó là một điều đẹp đẽ, kỳ diệu và không thể diễn tả bằng lời. Nhưng tâm trí bị mắc kẹt trong những gì nó đã biết về sự thật thì chỉ quanh quẩn trong một vòng luẩn quẩn, đi từ cả tin đến hoài nghi.
Khi thực sự nhận thức trọn vẹn ý nghĩa sâu xa của cái chết, chúng ta sẽ tự mình khám phá, qua trải nghiệm trực tiếp, rằng sự sống và cái chết chỉ là hai mặt của một thực tại toàn vẹn.
Cái chết là kho tàng của sự sống. Con đường của sự sống được dệt nên từ dấu vó của tử thần.

Sự sống là nguồn năng lượng vừa điều khiển chúng ta, vừa được chúng ta điều khiển. Từ khi sinh ra cho đến lúc chết, các dòng năng lượng ấy không ngừng lưu chuyển trong con người.
Loại năng lượng duy nhất mà cơ thể con người không thể chống chọi được là tia tử thần. Tia này mang điện áp cực cao, vượt quá khả năng chịu đựng của cơ thể con người.
Giống như tia sét có thể xé toạc một thân cây, tia tử thần cũng vậy: một khi chạy qua cơ thể con người, nó sẽ hủy diệt cơ thể ấy.
Tia tử thần là cầu nối giữa cái chết và sự sống.
Tia tử thần tạo ra một hiệu điện thế bên trong con người, đồng thời phát sinh một nốt chủ âm6 đặc trưng. Chính nốt chủ âm này có sức mạnh chi phối quá trình kết hợp các gen trong trứng đã thụ tinh.
Tia tử thần phân rã cơ thể con người thành những thành phần cơ bản.
Thật không may, cái tôi – vốn được cấu thành từ năng lượng – vẫn tiếp tục tồn tại trong con cháu chúng ta.
Sự thật về cái chết, sự thật về khoảng chuyển tiếp giữa cái chết và sự thụ thai, không thuộc về thời gian. Chúng ta chỉ có thể trực tiếp trải nghiệm hiện tượng ấy thông qua khoa học thiền.
Thầy cô ở trường phổ thông cũng như giảng viên cao đẳng và đại học nên dạy cho học sinh con đường dẫn đến trải nghiệm trực tiếp về sự thật, về chân lý.
– Samael Aun Weor, “Giáo dục nền tảng”
- Câu này được trích từ đoạn 276 trong tác phẩm Oráculo manual y arte de prudencia (Cẩm nang về Nghệ thuật và Trí tuệ) của Baltasar Gracián, xuất bản năm 1647. Đây là một trong những tác phẩm kinh điển nổi tiếng nhất của văn học Tây Ban Nha. Toàn văn đoạn 276 như sau:
“Hãy hoàn thiện bản thân với sự trợ giúp của tự nhiên và nghệ thuật. Người ta nói rằng tính cách con người thay đổi sau mỗi bảy năm. Vì vậy, hãy luôn thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn và bồi dưỡng sở thích của mình ngày càng thanh cao. Trong bảy năm đầu, con người phát triển trí tuệ; rồi cứ mỗi giai đoạn bảy năm tiếp theo, hãy tiếp tục tỏa sáng và vươn tới sự hoàn thiện hơn. Hãy quan sát những biến đổi ấy và nỗ lực không ngừng để tự đổi mới. Đồng thời, cũng hãy hy vọng rằng người khác rồi sẽ thay đổi theo thời gian. Nhiều người thay đổi cách cư xử khi thay đổi nghề nghiệp hoặc địa vị xã hội. Đôi khi, chỉ khi sự biến đổi đã đạt đến đỉnh điểm, người ta mới nhận ra nó. Khi hai mươi tuổi, con người là con công; ba mươi tuổi là sư tử; bốn mươi tuổi là lạc đà; năm mươi tuổi là rắn; sáu mươi tuổi là chó; bảy mươi tuổi là khỉ; và đến tám mươi tuổi, con người không còn là gì nữa.” ↩︎ - Bản gốc có một châm ngôn tiếng Tây Ban Nha với ý nghĩa tương tự như bản dịch này. ↩︎
- Liên Hoa Sanh – Bản gốc ghi là “Thánh Lạt-ma”. Tên gọi này cũng xuất hiện trong Beelzebub’s Tales to His Grandson (Beelzebub kể chuyện cho cháu trai) của G. I. Gurdjieff. Tuy nhiên, Gurdjieff không nói rõ “Thánh Lạt-ma” là nhân vật lịch sử nào. Trong bản dịch này, chúng tôi chọn dịch là Liên Hoa Sanh, vì đây là nhân vật phù hợp nhất với bối cảnh của đoạn văn này cũng như với nội dung của Beelzebub kể chuyện cho cháu trai. ↩︎
- Ngôi Lời: Tương ứng với Le Verbe trong tiếng Pháp, λόγος (Logos) trong tiếng Hy Lạp và The Word hoặc The Verb trong tiếng Anh. Ngôi Lời được định nghĩa là sức mạnh trí tuệ hoạt động một cách siêu việt và tuyệt đối trong chuyển động phổ quát; đồng thời là lời nói của Bản thể được biểu hiện qua con người. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2019/12/08/ngoi-loi/ ↩︎
- Tả đạo: Còn gọi là con đường tay trái (tiếng Phạn: vāmācāra), chỉ con đường tu hành tantra trong đó học trò chủ ý phá giới để vượt khỏi quan niệm nhị nguyên về “tốt” và “xấu”. Trong Gnosis, tả đạo được hiểu là con đường thức tỉnh sai lệch, có thể dẫn đến sự thức tỉnh tiêu cực, ma thuật và phép thuật đen. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2024/08/02/con-duong-tay-phai-con-duong-tay-trai/ ↩︎
- Nốt chủ âm: mọi sự vật trong tự nhiên đều có một nốt chủ âm riêng. Khi một người hòa điệu tâm thức với nốt ấy, người đó có thể nhận được sự phản hồi từ sự vật tương ứng. Khi tia tử thần tách Phật tính khỏi thân xác cũ, một điện thế cực lớn được sinh ra kèm theo một nốt chủ âm; chính nốt này góp phần khiến các gen chuyển động và kết hợp để hình thành cơ thể vật chất tương lai. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2024/02/02/not-chu-am/ ↩︎


