Trong một đại kiếp1 của vũ trụ, các làn sóng sự sống, hay các tia lửa thuần khiết, trải qua bảy giai đoạn biểu hiện, tức bảy chu kỳ liên tiếp. Bảy chu kỳ này tạo thành quá trình tiến hóa của hành tinh.
– Samael Aun Weor
Chu kỳ thứ nhất: Chu kỳ của cõi lý trí (Kỷ nguyên Sao Thổ)
Trong chu kỳ biểu hiện đầu tiên, toàn bộ tự nhiên đều tồn tại trong cõi lý trí. Các hình tướng vốn đã được phác họa trong Tâm Trí Vũ Trụ dần trở nên cô đặc hơn qua các chu kỳ biểu hiện.
“Tôi đã dùng thiên nhãn thông để nhìn vào kỷ nguyên của Sao Thổ; ở đó, tôi không thấy bất cứ điều gì mơ hồ hay hư ảo. Này Bessant, Leadbeater, Heindel, Steiner, siêu năng lực của các ông bà ở đâu? Tri thức của các ông bà đâu rồi? Tại sao các ông bà lại nói với tôi về những điều mơ hồ, trong khi ở đây mọi thứ đều rõ ràng và chính xác?”
Những người sống trong kỷ nguyên Sao Thổ là những con người đích thực, bởi họ có bản thể và ý thức được rằng mình có bản thể.
Các giống loài người luôn có những nét tương đồng với nhau. Con người trong kỷ nguyên Sao Thổ cũng giống như con người hiện đại và sống trong một môi trường tương tự.
Khi nói về loài người, chúng ta nghĩ đến những hiệu buôn, quán rượu, nhà thổ, những cuộc truy hoan; những cô gái xinh đẹp ve vãn các chàng trai tuấn tú; những nàng công chúa bị bắt cóc và những tòa lâu đài cổ; gã Don Juan2 hàng xóm và những người thức khuya làm thơ; ông già đau khổ và đứa trẻ khóc lóc; người mẹ hát ru và vị tu sĩ thì thầm cầu nguyện. Tóm lại, đó là tất cả những phẩm chất và khuyết điểm muôn hình muôn vẻ làm nên cuộc sống con người.
Loài người là nơi thai nghén thiên thần và ác quỷ; kết quả cuối cùng chỉ có thể là thiên thần hoặc ác quỷ.
Khi Đơn tử3 Thần thánh truyền sức sống cho ba vương quốc thấp hơn4 thì không có gì nguy hiểm. Nguy hiểm chỉ bắt đầu khi tiến hóa đến vương quốc con người, bởi từ đây sinh linh đứng trước hai khả năng: trở thành thiên thần hoặc trở thành ác quỷ.
Toàn bộ vật chất khi ấy vẫn còn thuộc về cõi lý trí. Con người thời đó đều sử dụng cơ thể cảm xúc. Họ ăn, mặc, uống và vui chơi giống như con người ngày nay, bởi cơ thể cảm xúc gần như đặc chắc như cơ thể vật chất và cũng có cấu tạo tương tự.
Chắc chắn, con người Arcadia5 vẫn còn lưu giữ ký ức về những đại thảm họa cổ xưa và những truyền thống tốt đẹp từ thời xa xưa, trước kỷ nguyên Sao Thổ. Nhưng khi chu kỳ phát triển của loài người đạt đến đỉnh cao, đời sống thời ấy cũng tương tự như đời sống ngày nay.
Con người trong kỷ nguyên Sao Thổ sử dụng cơ thể cảm xúc và có vóc dáng cao lớn. Vào thời ấy, cơ thể của con người ngày nay mới chỉ tồn tại dưới dạng những hạt giống có khả năng phát triển. Khi đó, bản thể của con người ngày nay cũng mới chỉ là những tia sáng tinh khiết đem sức sống đến cho vương quốc khoáng vật.
Hoàng hôn của Đêm Vũ Trụ6 trải đôi cánh nhung huyền bí trên những thung lũng sâu và những ngọn núi khổng lồ của Arcadia cổ đại. Những cây cổ thụ nghìn năm, hậu duệ cuối cùng của những giống cây bí ẩn chưa từng được biết đến, đã chứng kiến vô số mùa lá rụng và giờ đây dường như đang thực sự héo tàn để ngả vào vòng tay của cái chết. Cơ thể con người hiện nay của chúng ta khi ấy mới chỉ hiện ra như những bóng hình mờ ảo của con người, còn bản thể sâu thẳm của họ đã khoác lên mình bộ lễ phục đẹp nhất.
Những trận động đất khủng khiếp làm rung chuyển Arcadia; khắp nơi đều phảng phất hơi thở của cái chết. Từ biển người mênh mông ấy, xuất hiện hai loại sinh linh: thiên thần và ác quỷ.
Chu kỳ thứ hai: Chu kỳ cõi cảm xúc (Kỷ nguyên Mặt trời)
Sau một thời gian vũ trụ nghỉ ngơi, sự sống lại trải qua kỷ nguyên Sao Thổ, rồi kỷ nguyên Mặt Trời bắt đầu. Trái đất tỏa sáng rực rỡ với những sắc màu khôn tả của ánh sáng tinh tú; vật chất của vũ trụ khi ấy cũng chính là ánh sáng tinh tú này. Vào thời đó, cơ thể vật chất của loài người ngày nay đã phát triển thêm một bước và nhận được cơ thể khí lực, cơ thể mà ngày nay đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ cơ chế sinh học của con người.
Các thiên thần và ác quỷ từ kỷ nguyên Sao Thổ trôi nổi trong bầu khí quyển của kỷ nguyên Mặt Trời.
Vũ trụ tỏa sáng rực rỡ và ngập tràn vẻ đẹp khôn tả. Loài người trong kỷ nguyên Mặt Trời cũng tương đồng với loài người của các kỷ nguyên khác. Trong số những người sống vào thời ấy, có một người đã thực hiện những nỗ lực phi thường để đạt đến sự hoàn thiện. Về sau, người ấy chính là Chúa Kitô, vị Rabbi thần thánh xứ Galilee, Ngôi lời Thái Dương.
Vào kỷ nguyên Mặt Trời, cũng có một ngôi đền của tà thuật, nơi nhiều người đã được điểm đạo để rồi trở thành ác quỷ. Astaroth7 đã được điểm đạo trong ngôi đền đen khổng lồ ấy.
Sau hàng triệu năm, khi Đêm Vũ Trụ sắp buông xuống kỷ nguyên Mặt Trời, bốn vị Chúa Lửa đã ban cho bản thể của loài người ngày nay linh hồn, hay cơ thể Buddhi, chính là cơ thể trực giác.

Cơ thể trực giác được kết nối trực tiếp với trái tim. Vì thế, trái tim là trung tâm của trực giác. Luân xa, hay đóa sen trực giác, quay tròn và tỏa sáng với vẻ đẹp phi thường. Bên trong luân xa này có bảy trung tâm nguyên tử, đóng vai trò là công cụ để bảy nhóm chưởng quản vĩ đại của vũ trụ tác động lên cơ thể kỳ diệu của chúng ta. Như chúng tôi đã nói trong cuốn sách Hôn nhân hoàn hảo, hay Cánh cửa điểm đạo, trái tim của Mặt Trời có cấu tạo tương tự như trái tim trong cơ thể con người. Cũng như Mặt Trời có bảy vị chưởng quản điều khiển bảy tia vũ trụ, trái tim của chúng ta cũng có bảy bộ não tương ứng với bảy nhóm chưởng quản vĩ đại của vũ trụ.8
Vào cuối kỷ nguyên Mặt Trời, loài người thời đó đã đạt đến trạng thái thiên thần, và họ chính là các tổng lãnh thiên thần ngày nay. Điểm đạo đồ cao nhất trong số họ là Đấng Kitô. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người thời ấy đều đạt đến trạng thái này, vì phần lớn đã trở thành ác quỷ.
Yahweh9, cực đối lập10 của Đấng Kitô, là điểm đạo đồ đen tối cao nhất của thời đại ấy. Khi Đêm Vũ Trụ buông xuống, vũ trụ dường như chìm vào Chaos11. Toàn bộ thiên nhiên đi vào một giấc ngủ hạnh phúc.
Hạt giống của mọi sinh vật đều chìm vào vòng tay của giấc ngủ, và giữa không gian vô tận vang lên tiếng đàn hạc tuyệt diệu của Ê-lo-him12.
Chu kỳ thứ ba: Chu kỳ ê-te (Kỷ nguyên Mặt trăng)
Khi Đêm Vũ Trụ của kỷ nguyên Mặt Trời kết thúc, bình minh của kỷ nguyên Mặt Trăng bắt đầu. Vũ trụ của kỷ nguyên Mặt Trời ngưng tụ thành chất ê-te13. Sự sống tái diễn tất cả các trạng thái của những kỷ nguyên vũ trụ trước đó; sau khi quá trình này hoàn tất, kỷ nguyên Mặt Trăng mới thực sự bắt đầu trên Trái đất dưới dạng ê-te, hay còn gọi là Trái đất-Mặt Trăng. Con người trong kỷ nguyên Mặt Trăng có vóc dáng nhỏ bé, cơ thể được cấu thành từ chất ê-te. Họ xây nhà dưới lòng đất, nhưng phần mái lại nhô lên trên mặt đất, tương tự như mái nhà của chúng ta ngày nay. Họ buôn bán, làm việc và vui chơi giống như chúng ta. Các thị trấn của họ nhỏ và được nối với nhau bằng đường bộ và đường cao tốc, tương tự như ngày nay.
Họ cũng có những chiếc ô tô tương tự như của chúng ta. Những ngọn núi trong suốt như pha lê, mang màu xanh lam sẫm tuyệt đẹp; đó chính là sắc xanh mà chúng ta thường thấy khi nhìn những ngọn núi từ xa, và sắc xanh ấy chính là ê-te. Toàn bộ Trái đất cổ đại khi ấy đều mang sắc màu tuyệt đẹp này.
Các ngọn núi lửa không ngừng phun trào, và [Trái đất] khi ấy có nhiều nước hơn so với ngày nay; khắp nơi là những hồ nước mênh mông và biển cả bao la.
Hệ động thực vật thời đó rất khác so với ngày nay. Khi ấy, người ta có thể thấy những dạng khoáng-thực vật, tức những sinh thể nửa khoáng vật nửa thực vật, hay những dạng thực-động vật, v.v. Nói cách khác, ba vương quốc của tự nhiên lúc đó chưa được phân định rõ ràng như bây giờ; vương quốc này còn hòa lẫn với vương quốc kia. Cây cối có xu hướng rõ rệt là phát triển cành lá cong xuống thành hình vòm, khiến chúng trông giống như những chiếc ô khổng lồ. Trong mọi tạo vật cũng thể hiện một xu hướng rõ rệt hướng xuống dưới, nghĩa là hướng tới sự ngưng tụ ngày càng nhiều để cuối cùng trở thành trạng thái vật chất của Trái đất hiện nay. Thiên nhiên là một bộ kinh sống, và trong đó thiên nhiên phác họa những hình mẫu của mình.
Ngược lại, trong kỷ nguyên hiện tại, ở thế kỷ 20, chúng ta thấy con người có xu hướng xây dựng những tòa nhà ngày càng cao, chế tạo những chiếc máy bay ngày càng nhanh, v.v. Cây cối ngày nay luôn vươn về phía Mặt Trời, hướng lên cao, bởi Trái đất đã đạt đến mức độ vật chất hóa cao nhất và giờ đây đang khao khát vươn lên trở lại, trở về trạng thái ê-te. Quả thực, ê-te đang tràn ngập không khí và Trái đất đang ngày càng trở nên ê-te hơn. Đến cuối thời kỳ của chủng tộc Aryan vĩ đại, ê-te sẽ hiện rõ trong không khí, và những sinh linh sống trong cõi ê-te sẽ cùng con người tham gia vào mọi hoạt động.
Trong kỷ nguyên Mặt Trăng, cơ thể vật chất của loài người hiện đại chúng ta đã đạt đến mức độ hoàn thiện cao, và khi ấy chúng ta nhận được cơ thể cảm xúc. Vào thời kỳ này, con người ngày nay vẫn còn tồn tại dưới hình dạng động vật, trong khi các thiên thần và ác quỷ của những kỷ nguyên trước lơ lửng trong bầu khí quyển ê-te của Trái đất-Mặt Trăng; toàn thể loài người khi ấy đều có thể nhìn thấy và chạm vào họ. Đằng sau ngọn lửa của những núi lửa đang phun trào, con người nhận ra sự hiện diện của các tổng lãnh thiên thần, hay những sinh linh của lửa; và đằng sau mọi hình tướng hiện hữu, họ nhận ra các Chúa Tể của Hình Tướng. Những đứa con của sự sống cai quản các chức năng sống của vạn vật, còn các tinh linh14 của năm nguyên tố tự nhiên thì chung sống với con người.
Khi kỷ nguyên Mặt Trăng vĩ đại kết thúc, bản thể của loài người ngày nay đã nhận được cơ thể tâm linh con người, hay cơ thể ý chí, một cơ thể mà Krishnamurti rất coi thường.15
Khi Đêm Vũ Trụ của kỷ nguyên Mặt Trăng kéo đến, Đức Giê-hô-va cùng các thiên thần của ngài, cũng như Lu-xi-phe16 cùng các ác quỷ của hắn, đều rút khỏi sân khấu vũ trụ; toàn thể thiên nhiên chìm vào trạng thái nghỉ ngơi sâu.
Chu kỳ thứ tư: Chu kỳ vật chất (Kỷ nguyên Trái đất)
Khi Đêm Vũ Trụ của kỷ nguyên Mặt Trăng kết thúc, vũ trụ ngưng tụ thành một tinh vân17, chính là tinh vân mà Laplace18 nói đến. Đây là khởi đầu của kỷ nguyên lý-hóa mà chúng ta đang sống. Thiên nhiên tái diễn các thời kỳ vũ trụ đã qua, như được mô tả dưới hình thức ẩn dụ trong Sáng Thế Ký19.

Đó là thời kỳ tinh vân trong thuyết của Laplace, khi Trái đất tái diễn những gì đã trải qua trong kỷ nguyên Sao Thổ.
Dưới sự thôi thúc mạnh mẽ của lời Đấng Tạo Hóa, lời đã bị lãng quên, các phân tử trong tinh vân tối và nóng này bắt đầu ma sát với nhau, khiến tinh vân cuối cùng bốc cháy.
Đây là thời kỳ Hyperborea, trong đó các nguyên tử thái dương từ kỷ nguyên Mặt Trời bắt đầu hoạt động. Khi ấy, Trái đất của chúng ta là một quả cầu lửa, tràn đầy trí tuệ của lửa và ánh sáng do chính ngọn lửa ấy tạo ra. Trên quả cầu rực rỡ này có các tổng lãnh thiên thần, chính là con người của kỷ nguyên Mặt Trời, đang biểu hiện trí tuệ trọn vẹn của mình.
“Đức Chúa Trời phán: ‘Phải có khoảng không phân cách giữa nước với nước.’
Vậy, Đức Chúa Trời tạo ra khoảng không để phân tách nước dưới khoảng không với nước trên khoảng không. Và nó đã là như vậy.
Đức Chúa Trời gọi khoảng không là bầu trời. Đó là buổi chiều và buổi sáng ngày thứ nhì.”
(Sáng Thế Ký 1:6–8)
Trong đoạn này, Kinh Thánh liên tục đề cập đến sự tái diễn những gì đã xảy ra trong kỷ nguyên Mặt Trời. Khi quả cầu rực lửa tiếp xúc với vùng ẩm ướt giữa các hành tinh, hơi nước được tạo ra và hình thành nên những đám mây khổng lồ. Những đám mây này ngưng tụ rồi trút xuống thành mưa, tạo nên những biển nước mênh mông và những vùng nước sôi không ngừng trên quả cầu rực lửa. Khi ấy, những đám mây phân cách nước trên trời với nước trên quả cầu lửa.
“Đức Chúa Trời phán:
– ‘Nước ở dưới bầu trời hãy tụ lại một nơi, để đất khô xuất hiện.’
Và sự việc đã xảy ra như vậy. Đức Chúa Trời gọi đất khô là Đất, còn vùng nước tụ lại Ngài gọi là Biển. Đức Chúa Trời thấy điều ấy là tốt lành.”
(Sáng Thế Ký 1:9–10)
Những vùng nước sôi không ngừng trên quả cầu lửa dần nguội đi và kết tinh, tạo thành một lớp vỏ trên bề mặt quả cầu. Như thế, lời của Đấng Sáng Thế đã ứng nghiệm khi Ngài phán: “Đất khô phải xuất hiện”, và “Đức Chúa Trời gọi đất khô là Đất”. Lớp vỏ đầu tiên của Trái đất đã được hình thành như thế và được gọi là Lemuria.
Trong thời kỳ Lemuria, Trái đất tái diễn những gì đã trải qua trong kỷ nguyên Mặt Trăng, bởi theo quy luật của sự sống, trước khi bắt đầu một chu kỳ biểu hiện mới, thiên nhiên phải tái diễn những gì đã trải qua trong tất cả các chu kỳ biểu hiện trước đó.
Người nào muốn hiểu một cách khách quan toàn bộ quá trình tiến hóa của loài người thì nên quan sát bào thai con người từ lúc thụ thai. Trong bụng mẹ, bào thai lần lượt tái diễn những biến đổi mà cơ thể con người đã trải qua kể từ khởi nguyên xa xưa.
Chủng tộc gốc đầu tiên: chủng tộc nguyên sinh
Chủng tộc này sinh sống ở vùng đất ngày nay đã bị bao phủ bởi băng giá ở cực Bắc, xứ Asgard20, nơi được những truyền thống vô cùng cổ xưa nhắc đến như miền Thule21 xa xôi, Đảo Pha Lê.
Chủng tộc Địa Cực phát triển trong một môi trường hoàn toàn khác với hiện nay. Vào thời đó, Trái Đất thực sự ở trạng thái nửa ê-te, nửa vật chất; các ngọn núi vẫn còn trong suốt, và toàn thể Trái Đất rực sáng huy hoàng trong một màu xanh ê-te đậm vô cùng đẹp.
Là thành quả kỳ diệu của vô số quá trình tiến hóa và biến đổi không ngừng, khởi đầu từ trạng thái phôi thai nguyên thủy, chủng tộc thứ nhất xuất hiện từ các chiều không gian siêu việt trong trạng thái hoàn chỉnh và hoàn hảo.
Không còn nghi ngờ gì nữa, chủng tộc thứ nhất chưa từng mang những yếu tố sơ khai hay những ngọn nội hỏa mới chớm. Vì lợi ích của đại nghĩa, chúng tôi xin nhấn mạnh điều sau đây: “Trước khi chủng tộc loài người đầu tiên rời khỏi chiều không gian thứ tư để trở nên hữu hình và hữu thể trong thế giới ba chiều, họ đã phải được thai nghén hoàn chỉnh trong Jagad-Yoni, ‘tử cung của thế giới’.”
Họ là những con người nguyên thủy phi thường và siêu việt, những sinh vật lưỡng tính22 hoàn toàn thần thánh, những sinh linh kỳ diệu không thể diễn tả bằng lời, vượt lên trên cả thiện lẫn ác.
Họ là nguyên mẫu của sự hoàn hảo vĩnh cửu qua mọi thời đại: những con người nửa vật chất, nửa ê-te23, với cơ thể được cấu thành từ một loại chất nguyên sinh không thể bị hủy hoại, có màu đen tuyệt đẹp, đàn hồi và dẻo dai, đồng thời có khả năng bay lơ lửng trong bầu khí quyển.
Với chất liệu ê-te mềm dẻo của Trái đất nguyên thủy, họ đã dựng nên những thành phố, cung điện và đền đài nguy nga. Các nghi lễ càn khôn thời ấy vô cùng đặc biệt, và những đền đài được xây dựng hết sức hoàn mỹ. Trên y phục, màu đen và trắng được kết hợp để tượng trưng cho cuộc đấu tranh giữa tâm linh và vật chất. Các biểu tượng và vật phẩm tâm linh được đặt theo chiều đảo ngược, tượng trưng cho tấn kịch của tâm linh đi xuống vật chất — một vở kịch trải dài qua nhiều thế kỷ. Khi ấy, sự sống đang từng bước bị vật chất hóa, và quá trình này cần được biểu đạt bằng các biểu tượng.24 Chữ viết của họ là những ký tự Rune, mang sức mạnh tâm linh vô cùng to lớn.
Hiển nhiên rằng tất cả những con người khổng lồ này đều là hiện thân của ngọn lửa thiêng, biểu hiện của những sức mạnh huyền bí nhất trong tự nhiên.
Đó là thời đại sinh sản bằng cách phân đôi. Những sinh vật này sinh sản theo phương thức tính dục phân đôi, “giống như quá trình phân chia nhân tế bào mà chúng ta đã thấy: nhân tách thành hai nhân nhỏ; hai nhân này hoặc tiếp tục phát triển bên trong thành tế bào, hoặc tách khỏi tế bào rồi sinh sôi bên ngoài như những thực thể độc lập”.
Trong con người lưỡng tính ấy, nơi các yếu tố nam tính và nữ tính hòa hợp một cách hoàn hảo, năng lượng tính dục vận hành theo một cách khác với ngày nay. Đến một thời điểm nhất định, cơ thể nguyên thủy của cha-mẹ sẽ phân đôi, tạo thành hai phần tách ra bên ngoài như hai thực thể độc lập. Quá trình này tương tự sự sinh sản bằng phân đôi hay sự phân chia tế bào. Đứa con sẽ còn gắn với cơ thể cha-mẹ trong một thời gian. Mỗi giai đoạn của quá trình sinh sản nguyên thủy này đều được đánh dấu bằng những nghi lễ và lễ hội.
Không còn nghi ngờ gì nữa, hòn đảo thiêng ấy — cái nôi của loài người đầu tiên và nơi cư ngụ của vị thần phàm trần cuối cùng — vẫn tồn tại trong chiều không gian thứ tư25 như chốn ở kỳ diệu của những Người Con của Hoàng hôn, các bậc tổ tiên và người dẫn dắt toàn thể nhân loại.
Đó là vùng đất của bình minh, tòa lâu đài bất diệt, miền địa đàng trên cao với khí hậu mùa xuân, nằm bên kia những vùng biển bí ẩn của Bắc Cực.
Vườn Địa đàng26 của chiều không gian thứ tư ấy tọa lạc nguy nga ở phương Bắc, trên một lục địa nằm giữa đại dương bao la.
“Không có con đường nào, dù trên đất liền hay ngoài biển khơi, có thể dẫn tới Đất Thánh” — đó là câu nói được nhắc đi nhắc lại rất nhiều trong truyền thống Hy Lạp.
Các bậc hiền triết phương Đông đã trang trọng nói rằng: “Chỉ đôi cánh của tâm linh mới có thể đưa chúng ta đến đó.”
Chủng tộc gốc thứ hai: Hyperborea
Chủng tộc này xuất hiện trên Trái đất như kết quả của những quá trình biến đổi không ngừng mà chủng tộc gốc vĩ đại đầu tiên đã trải qua trong quá khứ. Họ sinh sống ở vùng đất phương Bắc, trên một lục địa hình móng ngựa bao quanh Bắc Cực, tương ứng với khu vực ngày nay là miền Bắc châu Á, Greenland, Thụy Sĩ, Na Uy, v.v., và kéo dài đến tận quần đảo Anh.
Đây là thời đại diễn ra vô số biến đổi và đột biến trong tự nhiên. Rất nhiều giống loài đa dạng đã được thai nghén trong ống nghiệm của thiên nhiên, khi ấy ba vương quốc [động vật, thực vật và khoáng vật] vẫn chưa hoàn toàn phân biệt với nhau. Khí hậu lúc bấy giờ mang tính nhiệt đới, và Trái đất được bao phủ bởi một thảm thực vật phong phú.
Loài người vẫn còn mang tính lưỡng tính và sinh sản bằng cách nảy mầm, một phương thức đến nay vẫn còn tồn tại trong giới thực vật.
Không thể tìm thấy tàn tích của những chủng tộc nguyên thủy này, bởi vào thời ấy Trái đất được cấu thành từ một chất liệu nguyên sinh, mang tính bán ê-te, bán vật chất. Các nhà thiên nhãn thông vĩ đại chỉ có thể nghiên cứu lịch sử của những chủng tộc này trong ký ức của tự nhiên.
Chủng tộc gốc thứ ba: Lemuria
Từ loài người liên giới tính thần thánh thứ hai đã xuất hiện chủng tộc gốc thứ ba, những con người kép27, những người lưỡng tính khổng lồ, đồ sộ và hùng vĩ. Nền văn minh Lemuria phát triển rực rỡ trên lục địa Mu, hay còn gọi là Lemuria, một vùng đất núi lửa nằm ở Thái Bình Dương.
Hành tinh lúc này đã đạt đến mức độ vật chất hóa như hiện nay, đặc trưng của chu kỳ lý-hóa này. Cũng như mọi hình thái tồn tại trên Trái đất vào thời ấy, con người có tầm vóc khổng lồ.
Họ sinh sản bằng hình thức đẻ trứng, sinh ra những sinh linh lưỡng tính. Trong các thời kỳ về sau, một trong hai giới tính dần chiếm ưu thế, cho đến khi cuối cùng từ trứng nở ra những sinh vật mang giới tính nam hoặc nữ riêng biệt. Đến chủng tộc phụ thứ năm, trứng bắt đầu được giữ lại trong bụng mẹ, và con non sinh ra còn yếu ớt, bất lực. Cuối cùng, ở chủng tộc phụ thứ sáu và thứ bảy, việc sinh sản thường diễn ra bằng hình thức giao hợp.
Việc sinh sản hữu tính từ đó được thực hiện dưới sự chỉ đạo của các Kumara, những vị thần cai quản các đền thờ. Nhưng từ nửa sau của thời kỳ Lemuria, con người bắt đầu tà dâm, tức là phung phí tinh trùng thiêng liêng, mặc dù khi ấy họ chỉ làm như vậy để duy trì giống nòi. Vì thế, các vị thần đã trừng phạt loài người tội lỗi (A-đam và Ê-va) bằng cách trục xuất họ khỏi vườn địa đàng Ê-đen, miền đất hứa nơi những dòng sông sự sống tinh khiết tuôn chảy sữa và mật.
Con người thời ấy nói được ngôn ngữ phổ quát; lời nói của họ có sức mạnh chi phối lửa, khí, nước và đất. Họ có thể nhìn thấy hào quang của các hành tinh trong vũ trụ vô tận và có những năng lực tâm linh phi thường. Về sau, những năng lực ấy đã mất đi do hậu quả của tội nguyên thủy.
Đây là thời kỳ lớp vỏ Trái đất vô cùng bất ổn, với sự hình thành liên tục của núi lửa và những vùng đất mới. Cuối cùng, sau 10.000 năm trải qua nhiều cơn địa chấn khổng lồ trên đất liền và dưới đáy biển, lục địa Mu rộng lớn đã vỡ ra và chìm xuống dưới những con sóng của Thái Bình Dương. Ngày nay, dấu tích của lục địa này vẫn còn được thấy ở đảo Phục Sinh, Úc, châu Đại Dương, v.v.

Người ta đã nói nhiều về Địa đàng trên Trái đất.
Địa đàng ấy thực sự từng tồn tại, và đó chính là lục địa Lemuria nằm ở Thái Bình Dương. Đây là vùng đất khô đầu tiên xuất hiện trên hành tinh này. Nhiệt độ nơi đó vô cùng nóng bức.
“Khí hậu nóng dữ dội, hơi nước bao phủ khiến bầu khí quyển mờ đục, và con người thở bằng mang như loài cá.”
Loài người thời kỳ Địa cực, thời kỳ Hyperborea và buổi đầu thời kỳ Lemuria đều là người lưỡng tính, sinh sản tương tự như các vi khuẩn lưỡng tính. Vào buổi đầu thời kỳ Lemuria, loài người gần như chưa khác biệt với loài vật, nhưng sau 150.000 năm tiến hóa, người Lemuria đã đạt đến một trình độ văn minh vĩ đại mà chúng ta, chủng tộc Aryan, vẫn còn cách rất xa.
Đó là thời đại hoàng kim, thời đại của các Titan. Đó là thời kỳ tươi đẹp của Arcadia28, khi không tồn tại cái “của bạn” và “của tôi”, bởi mọi thứ đều thuộc về tất cả mọi người. Đó là thời mà những dòng sông tuôn chảy sữa và mật.

Trí tưởng tượng của con người là một tấm gương huyền diệu, nơi phản chiếu toàn cảnh bầu trời đầy sao của Urania29. Con người biết rằng sự sống của mình chính là sự sống của thần thánh, và người nào biết gảy đàn lia thì làm rung động cả không gian thiêng liêng bằng những giai điệu ngọt ngào. Người nghệ sĩ cầm đục được truyền cảm hứng từ trí tuệ vĩnh cửu và ban cho tác phẩm điêu khắc của mình vẻ uy nghiêm khủng khiếp của Thượng đế.

Ôi! Thời đại của những vị thần Titan khổng lồ, thời mà những dòng sông tuôn chảy sữa và mật.
Người Lemuria có vóc dáng cao lớn và vầng trán rộng; họ khoác những chiếc áo chùng mang đầy tính biểu tượng, phía trước màu trắng và phía sau màu đen. Họ có những con tàu bay trên không, vận hành bằng năng lượng nguyên tử; họ sử dụng năng lượng hạt nhân để chiếu sáng và đã đạt đến một trình độ văn hóa rất cao. (Trong quyển “Hôn nhân hoàn hảo”, chúng tôi đã nói rất nhiều về điều này.)
Đó là thời đại Arcadia, khi con người biết cách lắng nghe tiếng nói của thánh thần qua bảy nguyên âm của tự nhiên. Bảy nguyên âm ấy — I, Ê, Ô, U, A, M, S30 — vang vọng trong cơ thể người Lemuria, hòa cùng toàn bộ thứ âm nhạc khôn tả của nhịp điệu lửa.
Cơ thể người Lemuria là một cây đàn hạc kỳ diệu, nơi bảy nguyên âm của tự nhiên vang lên giữa niềm hân hoan tột độ của vũ trụ. Khi màn đêm buông xuống, toàn thể loài người chìm vào giấc ngủ như những sinh linh vô tội trong chiếc nôi của Mẹ Thiên nhiên, được ru bằng tiếng hát ngọt ngào, cảm động của các vị thần. Và khi bình minh ló dạng, Mặt trời mang đến niềm hạnh phúc trong trẻo, chứ không phải nỗi buồn u ám.

Hôn nhân trong thời đại Arcadia là những cuộc hôn nhân Gnosis. Con người chỉ quan hệ tình dục vợ chồng theo lệnh của Ê-lô-him31, và họ thực hiện điều đó như một nghi lễ trên bàn thờ hôn nhân, để hiến dâng thân xác cho những linh hồn cần đầu thai. Con người hoàn toàn không biết đến tà dâm, và nỗi đau sinh nở cũng không tồn tại.
Trải qua hàng nghìn năm liên tục động đất và phun trào núi lửa, Lemuria đã chìm xuống giữa những con sóng dữ dội của Thái Bình Dương, đồng thời từ đáy đại dương lục địa Atlantis bắt đầu xuất hiện.
Chủng tộc gốc thứ tư: Atlantis
Sau khi loài người lưỡng tính đã phân tách thành hai giới tính đối lập và được thiên nhiên biến thành những cỗ máy sinh sản thông qua việc sinh con, chủng tộc gốc thứ tư xuất hiện trên tầng địa chất Atlantis, nằm ở vùng Đại Tây Dương.32
Chủng tộc này đã được sinh ra từ chủng tộc thứ ba từ khoảng 8 triệu năm trước; vào thời điểm đó, Manu33 của chủng tộc thứ tư đã chọn từ chủng tộc thứ ba ra những người phù hợp nhất, dẫn dắt họ đến vùng Đất Thiêng bất diệt để giải thoát họ khỏi thảm họa Lemuria.

Atlantis chiếm gần như toàn bộ khu vực ngày nay là phía bắc Đại Tây Dương, kéo dài đến Scotland ở phía đông bắc, Labrador ở phía tây bắc và bao phủ phần lớn Brazil ở phía nam.
Người Atlantis có vóc dáng cao lớn hơn chủng tộc hiện nay. Họ sở hữu một nền công nghệ tiên tiến kết hợp với phép thuật, nhưng cuối cùng đã thoái hóa và bị hủy diệt.
H.P. Blavatsky, khi nhắc đến Atlantis, đã viết như sau trong bài thơ về nhân chủng học:
“Họ xây dựng đền đài để thờ phụng thân xác con người; họ thờ phụng nam giới và nữ giới. Thế rồi con mắt thứ ba ngừng hoạt động.” […] (Con mắt thứ ba là con mắt của trực giác và thị giác siêu việt.)
“Họ xây dựng nhiều thành phố khổng lồ. Họ xây bằng kim loại và các nguyên tố đất hiếm được luyện trong lửa. Họ xây bằng đá trắng lấy từ núi. Họ lấy đá đen, tạc tượng theo kích thước và hình dáng của chính mình, rồi tôn thờ những bức tượng ấy.” […]
“Ngọn lửa từ bên trong [Trái Đất] đã hủy diệt vùng đất của tổ tiên họ (Lemuria), và nước đe dọa chủng tộc thứ tư (Atlantis).”34
Nhiều thảm họa đã xóa sổ Atlantis; kết cục của lục địa này được lưu truyền trong mọi truyền thống cổ xưa qua câu chuyện về trận đại hồng thủy35. Thời điểm Atlantis bị nhấn chìm cũng là một giai đoạn diễn ra nhiều biến đổi địa chất. Từ đáy đại dương sâu thẳm, những vùng đất khác đã trồi lên, hình thành nên nhiều hòn đảo và lục địa mới.

Chủng tộc gốc thứ năm: Aryan
Đã một triệu năm trôi qua kể từ khi Manu Vaivasvata (Nô-ê trong Kinh Thánh) chọn ra từ chủng tộc phụ Sê-mít nguyên thủy của chủng Atlantis những hạt giống cho chủng tộc gốc thứ năm và dẫn họ đến vùng Đất Thiêng bất diệt. Trải qua nhiều thời đại, hạt nhân của nhân loại tương lai dần được hình thành. Những người đã kết tinh được các đức hạnh của linh hồn đi theo Manu trong cuộc di cư đến Trung Á, nơi ông lưu lại trong một thời gian dài và thiết lập nơi cư trú của chủng tộc, để rồi từ đó các nhánh của chủng tộc về sau tỏa đi theo nhiều hướng khác nhau.
Dưới đây là bảy chủng tộc phụ, hay bảy nhánh, của chủng Aryan-Atlantis:
– Chủng tộc phụ thứ nhất phát triển trên cao nguyên trung tâm châu Á, chính xác hơn là ở vùng Tây Tạng, và đã xây dựng nên một nền văn minh huyền học hùng mạnh.
– Chủng tộc phụ thứ hai phát triển rực rỡ ở miền nam châu Á, vào thời tiền Vệ Đà, khi trí tuệ của các rishi Ấn Độ và sự huy hoàng của đế chế Trung Hoa cổ đại, v.v., được biết đến.
– Chủng tộc phụ thứ ba phát triển một cách phi thường ở Ai Cập (tổ tiên trực tiếp của họ là người Atlantis), Ba Tư, Chaldea, v.v.
– Chủng tộc phụ thứ tư tỏa sáng qua các nền văn minh Hy Lạp và La Mã.
– Chủng tộc phụ thứ năm biểu hiện một cách hoàn hảo ở Đức, Anh và một số quốc gia khác.
– Chủng tộc phụ thứ sáu được hình thành từ sự pha trộn giữa người Tây Ban Nha và các dân tộc bản địa châu Mỹ.
– Chủng tộc phụ thứ bảy được thể hiện một cách hoàn hảo qua sự pha trộn đa dạng giữa các chủng tộc, như chúng ta thấy ngày nay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.
Chủng tộc hiện tại của chúng ta sẽ kết thúc bằng một trận đại thảm họa. Chủng tộc thứ sáu (chủng tộc Kô-ra-đi) sẽ sống trên một Trái đất đã được biến đổi (Vòng Tuần Hoàn thứ năm, hay Vòng Ê-te), và chủng tộc thứ bảy sẽ là chủng tộc cuối cùng. Sau bảy chủng tộc này, Trái đất sẽ trở thành một Mặt trăng mới.
Các chu kỳ tiếp theo
Chu kỳ thứ năm trong tương lai sẽ diễn ra trong thế giới ê-te, chu kỳ thứ sáu trong thế giới cảm xúc, và chu kỳ thứ bảy trong thế giới lý trí. Sau đó, đêm vũ trụ36 vĩ đại sẽ buông xuống.
– Samael Aun Weor
- Mahamanvantara (đại kiếp): Một chu kỳ biểu hiện lớn của vũ trụ, được ví như “ban ngày” của tạo hóa. Mỗi Mahamanvantara gồm nhiều kỷ nguyên và chu kỳ; sau đó là Pralaya, tức “ban đêm” của vũ trụ. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2024/03/13/mahamanvantara-va-pralaya-ngay-va-dem-cua-vu-tru/ ↩︎
- Don Juan: Nhân vật huyền thoại trong văn học châu Âu, nổi tiếng như hình mẫu của người đàn ông quyến rũ và chinh phục phụ nữ. Đọc thêm: https://vi.wikipedia.org/wiki/Don_Juan ↩︎
- Đơn Tử (tiếng Anh: Monad): Còn được gọi là Bộ Tam Thể Thần Thánh, Atman–Buddhi–Manas hay Chân Thần. Ở đây, Đơn Tử chỉ bản thể sâu thẳm và hạt giống của tâm thức, tiếp tục tái sinh qua các kiếp sau khi cơ thể vật chất chết đi. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2017/04/20/don-tu/ ↩︎
- Ba vương quốc thấp hơn là vương quốc khoáng vật, thực vật và động vật. ↩︎
- Arcadia: Trong thần thoại Hy Lạp, Arcadia chỉ một nền văn minh cổ xưa, nơi con người sống trong hòa bình và hạnh phúc. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2025/01/12/arcadia/ ↩︎
- Pralaya: Giai đoạn nghỉ ngơi hay “đêm vũ trụ”, khi một chu kỳ biểu hiện kết thúc và các thế giới trở về trạng thái tiềm ẩn trước khi một Mahamanvantara mới bắt đầu. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2021/09/24/pralaya/ ↩︎
- Astaroth là một ác quỷ. ↩︎
- Phẩm trật Thiên thần trong Kitô giáo: Hệ thống phân loại các thiên thần thành nhiều cấp bậc khác nhau. Theo truyền thống Kitô giáo phổ biến, có chín phẩm thiên thần, được chia thành ba cấp: Seraphim, Cherubim, Thrones; Dominions, Virtues, Powers; Principalities, Archangels và Angels. Đọc thêm: https://vi.wikipedia.org/wiki/Phẩm_trật_Thiên_thần_trong_Kitô_giáo ↩︎
- Giê-hô-va / Yahweh: Trong Cựu Ước, יהוה là một danh xưng của Thượng Đế và ngày nay thường được phiên âm là Giê-hô-va hoặc Yahweh. Ở đây, hai tên này được phân biệt: Giê-hô-va là thiên thần cai trị Mặt Trăng, còn Yahweh là một thiên thần sa ngã, đối nghịch với Đấng Kitô. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2024/06/04/gie-ho-va-yahweh/ ↩︎
- Kẻ song trùng (tiếng Đức: Doppelgänger): Mỗi người được cho là có một kẻ song trùng giống mình về nhiều phương diện nhưng đối nghịch về khuynh hướng; “mỗi tâm hồn trắng đều có một kẻ song trùng đen”. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2025/01/18/ke-song-trung/ ↩︎
- Chaos: Trạng thái nguyên thủy của vũ trụ, nguồn gốc của mọi tạo hóa. Trong ngữ cảnh huyền học, Chaos cũng chỉ tinh, tức khí lực sinh dục của con người và của vũ trụ; trong luyện kim đan, Chaos được tạo thành từ sự kết hợp của nguyên tố nước và lửa. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2023/01/19/chaos/ ↩︎
- Elohim: Từ tiếng Do Thái אלהים, thường được dịch trong Kinh Thánh là “Đức Chúa Trời”. Ở đây, Elohim được hiểu theo nghĩa số nhiều là “các vị thần” hay “các thiên sứ”, bao gồm cả nguyên lý nam và nữ; tương ứng với các vị Phật trong kinh sách Phật giáo. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2017/01/20/elohim/ ↩︎
- Ê-te: Trong huyền học phương Tây, ê-te là một trong năm nguyên tố cổ xưa. Ở đây, ê-te chỉ khí lực; cơ thể ê-te đồng nghĩa với cơ thể khí lực, còn cõi ê-te được gọi là chiều thứ tư của thế giới vật chất. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2022/09/14/e-te/ ↩︎
- Tinh linh: Những sinh vật của bốn nguyên tố trong tự nhiên: salamander thuộc lửa, undine và nereid thuộc nước, sylph thuộc không khí, còn gnome thuộc đất. Linh hồn của cây cối và khoáng chất cũng được gọi là tinh linh. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2017/04/16/tu-nhien-tinh-linh/ ↩︎
- Jiddu Krishnamurti (1895–1986): Nhà tư tưởng và diễn giả người Ấn Độ, từng được Hội Thông Thiên Học kỳ vọng sẽ trở thành một “Đấng Giáo hóa Thế giới”. Về sau, ông từ bỏ vai trò này, giải tán tổ chức được lập ra quanh mình và giảng dạy về tự do nội tâm, tự quan sát và sự giải thoát khỏi mọi hệ thống tư tưởng, giáo điều và thẩm quyền tinh thần. Đọc thêm: https://vi.wikipedia.org/wiki/Jiddu_Krishnamurti ↩︎
- Lu-xi-phe (Lucifer): Ở đây, Lu-xi-phe được hiểu là một yếu tố tâm linh bên trong mỗi người, có vai trò thử thách và cám dỗ để con người nhận ra rồi tan rã cái tôi. Từ Latin lucifer có nghĩa là “kẻ mang ánh sáng”, “tỏa sáng” hay “sao mai”. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2024/04/03/lucifer-lu-xi-phe/ ↩︎
- Giả thuyết tinh vân: Giả thuyết cho rằng Hệ Mặt Trời hình thành từ một đám mây khí và bụi quay quanh; dưới tác dụng của hấp dẫn, vật chất co lại, phần lớn tập trung ở trung tâm tạo thành Mặt Trời, còn phần còn lại hình thành các hành tinh và các thiên thể khác. Đọc thêm: https://vi.wikipedia.org/wiki/Giả_thuyết_tinh_vân ↩︎
- Laplace: Pierre-Simon Laplace (1749–1827), nhà toán học và thiên văn học người Pháp, là người phát triển giả thuyết tinh vân về sự hình thành Hệ Mặt Trời. Theo giả thuyết này, Mặt Trời và các hành tinh hình thành từ một khối vật chất dạng khí hoặc tinh vân quay và co lại dần dưới tác dụng của hấp dẫn. ↩︎
- Sáng Thế Ký 1–2: Hai chương đầu của Kinh Thánh mô tả công cuộc sáng tạo trời đất, ánh sáng, các vì sao, thực vật, động vật và con người. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2021/10/11/sang-the-ky-1-2-sang-tao-troi-dat/ ↩︎
- Asgard: Trong thần thoại Bắc Âu, Asgard là cõi của các vị thần Aesir, một trong chín thế giới và là nơi cư ngụ của các thần như Odin, Thor và Frigg. Asgard được nối với Midgard, thế giới của loài người, bằng cầu Bifröst. Đọc thêm: https://vi.wikipedia.org/wiki/Asgard_(thần_thoại) ↩︎
- Thule: Trong các nguồn Hy–La cổ đại, Thule là vùng đất xa xôi ở cực Bắc, thường được xem là giới hạn tận cùng của thế giới đã biết. Về sau, Thule trở thành hình tượng mang tính huyền thoại về một miền đất phương Bắc xa xăm, bí ẩn và gần như ngoài thế giới con người. Đọc thêm: https://vi.wikipedia.org/wiki/Thule ↩︎
- “Lưỡng tính” (tiếng Anh: androgynous): Ở đây chỉ loài người mang đặc tính của cả hai giới và có khả năng sinh sản mà không cần quan hệ tình dục. ↩︎
- Ê-te: Ở đây chỉ chất liệu tinh tế cấu thành cơ thể khí lực và cõi khí lực; cõi ê-te còn được gọi là chiều thứ tư của thế giới vật chất. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2022/09/14/e-te/ ↩︎
- Ví dụ: Hiện tại, biểu tượng ngôi sao năm cánh được vẽ với đỉnh chỉ về phía trên, giống như trên cờ Việt Nam. Biểu tượng này tượng trưng cho hướng phát triển từ cõi vật chất đi lên các cõi cao hơn. Ở thời của những chủng tộc gốc đầu tiên, họ vẽ ngôi sao năm cánh lộn ngược, với cái đỉnh chỉ về Trái Đất để tượng trưng cho quá tình hướng về cõi vật chất và vật chất hóa dần dần. ↩︎
- Chiều không gian thứ tư: Một chiều không gian vượt ngoài ba chiều quen thuộc của thế giới vật chất. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2024/11/05/xu-phang-va-khong-gian-da-chieu/ ↩︎
- Vườn Địa đàng: Theo Kinh Thánh, khu vườn do Thiên Chúa tạo dựng làm nơi cư ngụ ban đầu của Adam và Eva, thường được xem là hình ảnh của địa đàng trước khi con người sa ngã. Đọc thêm: https://vi.wikipedia.org/wiki/Vườn_Eden ↩︎
- Người kép, từ gốc là “Duplos”. Lưu ý rằng ý nghĩa của bản gốc cũng không rõ ràng. ↩︎
- Arcadia: Trong thần thoại Hy Lạp, Arcadia chỉ một vùng đất cổ xưa lý tưởng, nơi con người sống hòa bình, hạnh phúc và gần gũi với thiên nhiên. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2025/01/12/arcadia/ ↩︎
- Trong thần thoại Hy Lạp, nữ thần Urania là thần linh của thiên văn học. ↩︎
- IEOUA: Câu thần chú gồm năm nguyên âm I–E–O–U–A. Mỗi nguyên âm được dùng để tác động đến một luân xa khác nhau; khi thực hành, từng âm được kéo dài để tạo rung động trong cơ thể và hỗ trợ việc đánh thức các luân xa. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2020/01/27/than-chu-ieoua/ ↩︎
- Elohim: Từ tiếng Do Thái thường được dịch là “Đức Chúa Trời”, nhưng có dạng số nhiều. Ở đây, Elohim được hiểu là “các vị thần” hay “các thiên sứ”, bao gồm cả nguyên lý nam và nữ. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2017/01/20/elohim/ ↩︎
- Trong tiếng Anh, “Đại Tây Dương” là “Atlantic Ocean”. Từ “Atlantic” bắt nguồn từ lục địa “Atlantis”. ↩︎
- Manu (tiếng Phạn): Vị tổ tiên nguyên thủy và người hướng dẫn sự hình thành, phát triển của một chủng tộc gốc mới. ↩︎
- Trích “Stanzas Translated with Commentaries from the Secret Book of Dzyan” (Đoạn thơ dịch từ Sách Dzyan bí mật, kèm lời giải), các đoạn X–XII, in trong Giáo lý Bí nhiệm của H. P. Blavatsky. Bản tiếng Việt được dịch trực tiếp từ bản tiếng Anh. Nội dung trong ngoặc tròn là phần thầy Samael bổ sung. ↩︎
- Đại hồng thủy: Trong Sáng Thế Ký 6–9, Thiên Chúa quyết định hủy diệt thế gian bằng một trận lụt lớn vì sự sa đọa của loài người; Nô-ê cùng gia đình và các loài vật được cứu nhờ con tàu. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2025/02/20/cau-chuyen-ve-dai-hong-thuy-trong-kinh-thanh-sang-the-ky-6-9/ ↩︎
- Pralaya: Giai đoạn nghỉ ngơi hay “đêm của vũ trụ”, khi một chu kỳ biểu hiện kết thúc và tạo hóa trở về trạng thái tiềm ẩn trước khi một Mahamanvantara mới bắt đầu. Đọc thêm: https://gnosisvn.org/2021/09/24/pralaya/ ↩︎


